Showing posts with label Bói Việt Dịch. Show all posts
Showing posts with label Bói Việt Dịch. Show all posts

Monday, November 1, 2010

Giải Mã Bí Ẩn Lục Thập Hoa Giáp - Hà Hưng Quốc (#2)


Những bí ẩn của Lục Thập Hoa Giáp hoàn toàn phơi bày dưới lăng kính Việt Dịch. Cách tiếp cận mới đưa đến những khám phá lạ khiến chúng ta tự hỏi phải chăng tổ tiên Lạc Việt mới chính là chủ nhân đích thực của Bảng Lục Thập Hoa Giáp?

Trở về: Giải Mã Bí Ẩn Lục Thập Hoa Giáp - bài 1


2. NHỮNG BÀN CẢI VỀ QUY LUẬT NẠP ÂM
CỦA LỤC THẬP HOA GIÁP
Trong mớ bòng bong của những giải thích về ngũ hành nạp âm mà học giả NVTA đã tra cứu và đưa ra để dẫn chứng có vài đoạn văn bản đáng cho chúng ta đặc biệt chú ý.  Đoạn thứ nhất là của Thẩm Quát.  Ông ta viết: 

Nạp Âm lục thập Giáp Tí, rất ít người biết nguyên lý của nó. Sự thực là phép của 60 luật lữ cung nhằm làm cung pháp. Một luật hàm 5 âm, 12 luật tức nạp 60 âm. Phàm Dương ‘Khí’ bắt đầu ở phương Đông mà đi về bên phải, Âm ‘Khí’ khởi từ phương Tây mà đi về bên trái, Âm Dương đan xen nhau mà sinh biến hóa.  Chỗ gọi là khí bắt đầu ở phương Đông nầy là bốn mùa bắt đầu ở Mộc, đi về bên phải chuyển tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Thổ, Thổ chuyển tới ở Kim, Kim chuyển tới ở Thủy. Chỗ bảo rằng Âm bắt đầu ở phương Tây nầy là Ngũ Âm bắt đầu ở Kim, chuyển xoay về bên trái tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Mộc, Mộc chuyển tới Thủy, Thủy chuyển tới Thổ. . .  Phương pháp cơ bản của Nạp Âm là cùng loại với ‘thú thê’ (lấy vợ) cách tám sinh con. Thứ tự của Ngũ Hành Nạp Âm là trước trọng sau mạnh, mạnh rồi mới đến quí. Tam nguyên của Độn Giáp đã ghi chép như thế vậy.  Giáp Tí là trọng của Kim (Thương của Hoàng Chung), lấy vợ cùng vị tức là Ất Sửu (Thương của Đại Lữ cùng ngôi vị). Bảo rằng là loại của Giáp với Ất, Bính với Đinh. Ở dưới đều phỏng theo thế. Cách tám sinh ra Nhâm Thân ở dưới là mạnh của Kim (Thương của Di Tắc), cách tám đó là Đại Lữ sinh ra Di Tắc vậy. Ở dưới đều phỏng theo thế. Nhâm Thân lấy vợ cùng một ngôi vị là Quý Dậu (Thương của Nam Lữ). Cách tám, Canh Thìn sinh ra ở trên quý của Kim (Thương của Cô Tẩy), như thế tam nguyên của Kim hết. Nếu chỉ lấy thời Dương mà nói thì dựa vào Độn Giáp chuyển thuận: trọng-mạnh-quí. Nếu kiêm nói về vợ thì nghịch chuyển: mạnh-trọng-quí. Canh Thìn lấy vợ Tân Tỵ cùng ngôi vị (Thương của trọng lữ), cách tám ở dưới sinh Mậu Tí, trọng của Hỏa (Chủy Kim của Hoàng Trung). Tam nguyên [của kim] hết thì đi về bên trái chuyển tới phương Nam, Hỏa Mậu Tí - Kỷ Sửu (Chủy của Đại Lữ) sinh ra Bính Thân, mạnh của Hỏa (Chủy của Di Tắc) Bính Thân lấy vợ Đinh Dậu (Chủy của Nam Lữ) sinh Giáp Thìn, quý của Hỏa (Chủy của Cô Tẩy), Giáp Thìn lấy vợ Ất Tỵ (Chủy của Trọng Lữ) sinh Nhâm Tí, trọng của Mộc (Giác của Hoàng Chung). Tam nguyên Hỏa hết thì đi về bên trái chuyển tới phương Đông Nam – Mộc. Như đi về bên trái đến Đinh Tỵ là Cung của Trọng Lữ ngũ âm hết lần một. Quay lại từ Giáp Ngọ, trọng của Kim, lấy vợ Ất Mùi, cách tám sinh Nhâm Dần. Giống như phép của Giáp Tí thì hết ở Quý Hợi (gọi là Nhuy Tân lấy vợ Lâm Chung, trên sinh ra loại của Thái Thốc). Tí đến Tỵ là Dương, vì vậy từ Hoàng Chung đến Trọng Lữ, đều là hạ sinh. Từ Ngọ đến Hợi là Âm, vì vậy từ Lâm Chung đến Ứng Chung đều thượng sinh.[1]    
        
Nhận xét về đoạn văn trên học giả NVTA đã viết: 
  
Qua đoạn trích dẫn ở trên thì chúng ta nhận thấy rằng . . . Cho dù bạn xoay chuyển thế nào thì Thẩm Quát vẫn sai.  Điều này được chứng minh như sau: Chúng ta so sánh chu kỳ đã dẫn của Thẩm Quát với chu kỳ nạp âm Ngũ hành ngay trong cổ thư chữ Hán như sau:
1) Ngũ Âm bắt đầu ở Kim => Giáp Tý/Ất Sửu = Hải trung Kim.
2) Chuyển xoay về bên trái tới Hỏa => Bính Dần/ Đinh Mão = Lư Trung Hoả.
3) Hỏa chuyển tới Mộc => Mậu Thìn/Kỷ Tỵ = Đại lâm Mộc.
4) Mộc chuyển tới Thủy                            
# Nhưng tiếp theo Mậu Thìn/ Kỷ Tỵ trong Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hai năm:Canh Ngọ/Tân Mùi thuộc Lộ Bàng Thổ?
5) Thủy chuyển tới Thổ
# Nhưng trong Lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán lại là hai năm: Nhâm Thân/Quí Dậu thuộc Kiếm Phong Kim?

Như vậy; quí vị cũng thấy rằng: Thực tế của chính bảng lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán đã phủ nhận cách giải thích của Thẩm Quát.  Bản thân ông Thẩm Quát cũng chỉ giải thích; chứ chưa chứng minh được nguyên lý của nó.[2] 

Nghiệm kỹ đoạn phân tích trên của học giả NVTA thì chúng ta thấy có lẽ là ông đã “thông dịch” sai giải thích của Thẩm Quát.  Vì qua thí dụ từ 1 tới 5 mà học giả NVTA đưa ra làm luận cứ cho thấy là dường như học giả NVTA muốn nói như thế này:

Nếu làm theo như Thẩm Quát giải thích thì 5 hành đi liền nhau phải là (1) Giáp Tí/ Ất Sửu = Hải Trung Kim; (2) Bính Dần/ Đinh Mão = Lư Trung Hỏa; (3) Mậu Thìn/ Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc; (4) Canh Ngọ/ tân Mùi = Thủy nào đó; (5) Nhâm Thân/ Quý Dậu = Thổ nào đó. 

Nhưng trong bảng LTHG thì ghi rõ là (1) Giáp Tí/ Ất Sửu = Hải Trung Kim; (2) Bính Dần/ Đinh Mão = Lư Trung Hỏa; (3) Mậu Thìn/ Kỷ Tỵ = Đại Lâm Mộc; (4) Canh Ngọ/ Tân Mùi = Lộ Bàng Thổ [chứ không phải Thủy nào đó]; (5) Nhâm Thân/ Quý Dậu = Kiếm Phong Kim [chứ không phải Thổ nào đó]. 

Từ đó học giả NVTA kết luận: Thực tế của chính bảng lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán đã phủ nhận cách giải thích của Thẩm Quát   

Thực là đáng tiếc vì Thẩm Quát đã không nói như vậy.  Thẩm Quát không nói là nạp 5 hành liên tiếp như học giả NVTA dẫn chứng.  Vì một lý do nào đó mà học giả NVTA đã bỏ qua quy luật cách bát và quy luật tam nguyên áp vào mỗi hành trước khi chuyển từ một hành này qua một hành khác và chuyển theo thứ tự từ Kim tới Hỏa tới Mộc tới Thủy tới Thổ mà Thẩm Quát đã nêu ra trong phần thí dụ.  Nếu theo thí dụ của Thẩm Quát mà tự kiến tạo cho mình một bảng LTHG [và tôi đã thực hiện] rồi đem đối chiếu kết quả [tôi đã đối chiếu với bảng LTHG trong cuốn Văn Hoá Cổ Phương Đông của Trần Văn Tam, trang 150, NXB Văn Hoá Thông Tin, xb năm 2000] thì không có sự sai biệt như học giả NVTA đã dẫn chứng.        
Tuy là lời văn hơi tối nhưng đoạn văn trên của Thẩm Quát mô tả khá rõ ràng những quy luật ngũ hành nạp âm của LTHG.  Và những quy luật đó là: (1) lấy hành khí âm để nạp [do đó mới gọi là nạp âm]; (2) khởi đầu là nạp hành Kim vào Giáp Tí (3) rồi sau đó nạp tiếp và phải tuân theo những quy luật là (3a) nạp cách bát và (3b) nạp đủ 3 lần [tam nguyên] xong thì  chuyển qua hành kế; (4) hành chuyển theo thứ tự từ Kim tới Hỏa tới Mộc tới Thủy tới Thổ; (5) Can Chi vợ sẽ lấy theo hành khí của Can Chi chồng [Can Chi chồng là Giáp Tí thì Can Chi vợ là Ất Sửu đứng kế]; (6) Tam Nguyên theo thứ tự từ Mạnh tới Trọng tới Quí ; (7) Từ Giáp Tí đến Quý Tỵ là tròn một vòng 30 năm đầu và từ Giáp Ngọ đến Quý Hợi là tròn một vòng 30 năm sau. 
Thẩm Quát giải thích là hành khí Dương bắt đầu ở phương Đông mà xoay vần theo chiều kim đồng hồ còn hành khí âm khởi từ phương Tây mà xoay vần theo chiều ngược kim đồng hồ.  Có thế Âm Dương mới đan xen nhau mà sinh biến hóa.  Theo đó, tiến trình nạp âm [tức là nạp hành khí Âm] sẽ nạp từ Kim rồi tới Hỏa tới Mộc tới Thủy tới Thổ theo thứ tự.  Còn phương pháp nạp âm thì khởi đầu là nạp Kim vào Giáp Tí.  Rồi lìa vị trí Giáp Tí đếm 8 [“cách bát”] nạp Kim cho Nhâm Thân, rồi lìa vị trí Nhâm Thân đếm 8 nạp Kim cho Canh Thìn.  Nạp đủ ba lần Kim [“tam nguyên”] xong thì chuyển qua hành Hỏa.  Lìa vị trí Canh Thìn đếm 8 nạp Hỏa cho Mậu Tý, rồi Bính Thân, rồi Giáp Thìn.  Và tiếp tục như vậy cho đến hết 30 năm của nửa chu kỳ đầu.  Rồi quay lại nạp Kim vào Giáp Ngọ cho đến hết 30 năm của nửa chu kỳ sau.  Đủ 60 năm hoa giáp.  Tuân thủ quy luật thứ tự của 5 hành.  Trong mỗi hành tuân thủ quy luật Cách Bát và quy luật Tam Nguyên.  Và, Can Chi vợ nằm sát bên dưới của Can Chi chồng sẽ lấy theo hành khí của Can Chi chồng.  Từng cặp một giống như vậy và cho tất cả.   
Tuy có việc đáng tiếc nhưng học giả NVTA lại nhận xét đúng ở một điểm quan trọng là “Bản thân ông Thẩm Quát cũng chỉ giải thích; chứ chưa chứng minh được nguyên lý của nó.  Tôi có thể bổ túc thêm là dầu Thẩm Quát có là người đích thân khám phá ra những quy luật nạp âm của LTHG đi nửa cũng chưa chắc là đã có thể hiểu rõ nguyên lý làm nền cho những quy luật đó.  Nếu Thẩm Quát hiểu rõ thì đã không nói “chỗ gọi là khí bắt đầu ở phương Đông nầy là bốn mùa bắt đầu ở Mộc, đi về bên phải chuyển tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Thổ, Thổ chuyển tới ở Kim, Kim chuyển tới ở Thủy. Chỗ bảo rằng Âm bắt đầu ở phương Tây nầy là Ngũ Âm bắt đầu ở Kim, chuyển xoay về bên trái tới Hỏa, Hỏa chuyển tới Mộc, Mộc chuyển tới Thủy, Thủy chuyển tới Thổ.”   Vì chỉ có bao nhiêu lời vỏn vẹn nằm ngay trong hai câu nói này đã cho thấy rất rõ là ở câu trên, “chỗ gọi là khí . . . tới ở Thủy” [phần vận hành thuận chiều kim đồng hồ], thì Thẩm Quát vẫn còn nương náu trong quy luật Sinh của lý thuyết ngũ hành phổ cập [qua thứ tự Mộc -> Hỏa -> Thổ -> Kim -> Thủy do chính ông xác nhận] nhưng tới câu kế, “Chỗ bảo rằng Âm . . . chuyển tới Thổ” [phần vận hành nghịch chiều kim đồng hồ], thì Thẩm Quát lại phải xuôi theo một quy luật khác [qua thứ tự Kim -> Hỏa ->  Mộc -> Thủy -> Thổ] hoàn toàn khác với quy luật Khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập mà ông ta nương tựa.  Không thể nói là Thẩm Quát không nhìn ra điều này.  Nhưng ông không thể nào ngộ ra được một chút manh mối nào về một quy luật khác” đó.  Ông lại không thể phủ nhận hoặc bỏ đi cái gọi là “một qui luật khác” đó vì nếu phủ nhận thì không còn có cách nào khác để giải thích những quy luật nạp âm làm nên cái cấu trúc của bảng LTHG còn bỏ đi thì không biết phải thay thế bằng cái gì khi mà vòng Khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập đã không có khả năng để giải thích cấu trúc của bảng LTHG.  Thẩm Quát cũng không dám dựa trên quy luật Khắc của lý thuyết ngũ hành phổ cập để sửa đổi bảng LTHG, dầu là ông tin và nương tựa vào lý thuyết đó, vì thực tế chứng minh là bảng LTHG có một giá trị nhất định mới tồn tại được cả ngàn năm qua.  Không có lối thoát cho Thẩm Quát giải quyết bất cập này [và những bất cập tương tự đầy dẫy trong lý số và dịch học từ xưa đến nay].  Nhưng, như tôi đã phân tích, Thẩm Quát chỉ cho chúng ta thấy sự bất cập và lọng cọng của ông chứ không phải sai bét như là học giả NVTA đã cố gắng chứng minh.  

Cái gọi là “một quy luật khác” lại là một trong những nguyên lý cấu tạo Việt Dịch Đồ và do đó chỉ có Việt Dịch mới có đủ khả năng để giải thích.  Nhưng trước khi vận dụng Việt Dịch để làm sáng tỏ vấn đề, chúng ta muốn nghiên cứu thêm một vài đoạn trích dẫn từ sách của những học giả và danh sư khác để nhận diện đâu là cái mấu chốt của vấn đề trước đã.  Lã Hải Tập nói:
                                 
Cho nên vạn vật mới sinh nở tất nguồn gốc ở “Khí”, khí tức Kim. Kim thụ khí, thuận hành thì là Thể của Ngũ Hành, nghịch hành thì là Dụng của Ngũ Hành. Thuận hành là Thể của Ngũ Hành, lấy tương sinh làm thứ tự vì vậy dựa theo thứ tự làm Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ. Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành, đem phù trợ làm gốc. Như Kim nhân Hỏa bắt đầu mà có thể thành hữu dụng, Hỏa tất bắt đầu từ Mộc mới có thể phát sinh, Mộc không có Thủy tức không được phong phú tốt tươi, Thủy hẳn thác gửi vào Thổ mới có thể dừng mà tích giữ được thành sông nước, vì vậy thứ tự đó là Kim Hỏa Mộc, Thủy Thổ.  Cho nên Đại Náo (sau cuộc đại tạo) tạo ra Giáp Tí, tức lấy như thế làm thứ tự của Nạp Âm Ngũ Hành. Đại để như vậy vì Kim có thể thu nhận tiếng mà truyền bá khí ra. Phép nầy là: Giáp lấy Ất làm vợ, cách tám sinh con, con sinh cháu mà đi tiếp về sau, kế tục ngôi vị của nó ở đời tiếp. Như Giáp Tí là Kim, Giáp lấy Ất làm vợ, cách tám sinh Nhâm Thân là con. Nhâm lấy Quý làm vợ, cách tám là Canh Thìn tức là cháu. Canh lấy Tân làm vợ, cách tám là Mậu Tí đời Hỏa ngôi vị Kim. Thứ hai nói về Hỏa, Mậu kế tục nó về sau. Mậu lấy Kỷ làm vợ, cách tám là Bính Thân, ấy là con vậy; Bính lấy Đinh làm vợ, cách tám là Giáp Thìn, tức là cháu. Giáp lấy Ất làm vợ, cách tám là Nhâm Tí, đó là ngôi vị đời Mộc. Thứ ba gọi là Mộc, Nhâm kế tục đời nó. Nhâm lấy Quý làm vợ, cách tám làm Canh Thân, ấy là con vậy. Canh lấy lấy vợ Tân, cách tám là Mậu Thìn, ấy là cháu vậy. Mậu lấy vợ Kỷ cách tám là Bính Tí, đó là ngôi vị đời Thủy. Thứ tư gọi là Thủy, Bính kế tục sau nó, Bính lấy vợ Đinh, cách tám là Giáp Thân, ấy là con vậy. Giáp lấy vợ Ất, cách tám là Nhâm Thìn, ấy là cháu vậy. Nhâm lấy vợ Quý, cách tám là Canh Tí, đó là ngôi vị đời Thổ. Thứ năm gọi là Thổ. Canh lấy vợ Tân, cách tám là Mậu Thân, ấy là con vậy. Mậu lấy vợ Kỷ, cách tám là Bính Thìn, ấy là cháu vậy. Bính lấy vợ Đinh, cách tám là Giáp Tí, đó là ngôi vị đời Kim quay trở về. Giáp Ngọ, Ất Mùi khởi như phép trước. Đúng là vì vậy mới có thuyết ngũ Tí quy Canh. Đạo gia lưu truyền chọn nghĩa nầy dùng để phối ngôi vị của ngũ phương, tự số đầu Can Tí đến chữ Canh thì là số đó. Giáp Tí Kim, từ số Giáp đến bảy thì gặp Canh, nên phương Tây Kim được thất (7) khí. Mậu Tí là Hỏa, từ Mậu Tí đến ba số thì gặp Canh, nên phương Nam Hỏa được tam (3) khí. Nhâm Tí là Mộc, từ Nhâm đến chín số thì gặp Canh, nên phương Đông Mộc được cửu (9) khí. Bính Tí là Thủy, từ Bính đến năm số thì gặp Canh, nên phương Bắc Thủy được ngũ (5) khí. Canh Tí là Thổ, thì tự được một là nhất (1) khí ở phương giữa. Ấy là ngũ Tí quy Canh. Chính là biết Kim nầy thụ khí trước tiên, thuận hành thì là Thể của Ngũ Hành, nếu nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành. Vì vậy 60 Giáp Tí Nạp Âm nầy, lấy làm Dụng của vạn vật.[3]

Nhận xét về đoạn văn trên học giả NVTA đã viết:

Qua đoạn trích dẫn ở trên thì quí vị quan tâm cũng nhận thấy rằng: Theo Lã Hải Tập thì nguyên lý của nạp âm Ngũ hành chỉ ở đoạn trên. Đoạn dưới cũng chỉ diễn tả cụ thể hơn về nguyên tắc “Cách bát sinh tử (Nguyên lý này vẫn ứng dụng trong Lạc thư hoa giáp. Xin chứng minh ở phần sau). Nhưng chính nguyên lý này lại bị phủ nhận ngay trong bàng lục thập hoa giáp trong cổ thư chữ Hán. Bởi vì khi kết thúc hành Kim – Chu kỳ 24 năm – theo nguyên lý “Cách bát sinh tử thì con của Kim phải là Thuỷ ; nhưng trong nạp âm Ngũ hành từ cổ thư chữ Hán lại là Hoả).   

Bây giờ chúng ta xem lại đoạn trên trong phần trích dẫn từ Lã Hải Tập: ‘Cho nên vạn vật mới sinh nở . . .  truyền bá khí ra.’

Như vậy; qua đoạn trích dẫn trên; quí vị cũng nhận thấy rằng:
Với phương pháp so sánh và chứng minh tương tự với Thẩm Quát ở trên; chúng ta cũng không thấy tính qui luật nào trong chính cách nạp âm Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán phù hợp với lập luận (Phần in đậm) của Lã Hải Tập. Xin quí vị quan tâm xem phần so sánh minh hoạ dưới đây:
1) Kim nhân Hoả mà bắt đầu => Giáp Tý/ Ất Sửu.
Với hiện tượng này thì hợp lý với luận đề giải thích của Lã Hải Tập qua câu “Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành”. Trong trường hợp này; là sự tương tác trực tiếp giữa hai hành nghịch hành là Hoả & Kim.
2)Nhưng đến trường hợp tiếp theo của nạp âm trong lục thập hoa giáp từ cổ thư chữ Hán là Bính Dần; Đinh Mão thuộc Lư Trung Hoả thì lại không thể giải thích được bằng luận đề trên:
Hỏa tất bắt đầu từ Mộc mới có thể phát sinh,
Như vậy; trong trường hợp này; thì nguyên nhân của Hoả lại là lý tương sinh: Mộc sinh Hoả và nó lại tự phản bác với luận đề Nghịch hành ở trên?
3) Trường hợp nạp âm tiếp theo Bính Dần/ Đinh Mão trong bảng lục thập hoa giáp theo cổ thư chữ Hán là: Mậu Thìn/ Kỷ Tỵ thuộc Đại Lâm Mộc cũng không thể giải thích bằng cả lý thuân lẫn nghịch theo Lã Hải tập:
‘Mộc không có Thủy tức không được phong phú tốt tươi, Thủy hẳn thác gửi vào Thổ mới có thể dừng mà tích giữ được thành sông nước’.
Như vậy; đến lần này thì có đến ba hành liên hệ sinh khắc mới giải thích được và phủ nhận luôn chính luận đề của tác giả Lã Hải Tập:
Mộc (của hai năm Mậu Thìn/ Kỷ Tỵ: Đại lâm Mộc) do Thuỷ sinh. Thuỷ lại phải nương vào Thổ để tồn tại?[4]

Thêm một lần nữa thật là đáng tiếc vì Lã Hải Tập không phải nói như vậy.  Trong suốt đoạn “Cho nên vạn vật mới sinh nở tất nguồn gốc ở “Khí”, khí tức Kim. Kim thụ khí, thuận hành thì là Thể của Ngũ Hành, nghịch hành thì là Dụng của Ngũ Hành. Thuận hành là Thể của Ngũ Hành, lấy tương sinh làm thứ tự vì vậy dựa theo thứ tự làm Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ. Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành, đem phù trợ làm gốc. Như Kim nhân Hỏa bắt đầu mà có thể thành hữu dụng, Hỏa tất bắt đầu từ Mộc mới có thể phát sinh, Mộc không có Thủy tức không đước phong phú tốt tươi, Thủy hẳn thác gửi vào Thổ mới có thể dừng mà tích giữ được thành sông nước, vì vậy thứ tự đó là Kim Hỏa Mộc, Thủy Thổ cho thấy giải thích của Lã Hải Tập là chỉ để nói lên một qui luật: Dụng khí khởi từ Kim và nghịch hành tới Hỏa tới Mộc tới Thủy tới Thổ.  Chỉ đơn giản có vậy.  Những lời dong dài khác chỉ là lý sự để ngụy tạo sự hợp lý cho cái quy luật đó.  Hay nói một cách khác là Lã Hải Tập, trong đoạn Cho nên . . . Thủy Thổ, chỉ muốn giải thích quy luật vận hành của khí trong trời đất chứ chưa nói tới những quy luật nạp âm.  Còn nắm lấy quy luật này để đưa vào nạp âm như thế nào là một chuyện khác.  Và phải nhận ra là Lã Hải Tập đã giải thích những quy luật nạp âm rất cặn kẽ ở đoạn kế tiếp, còn cặn kẽ hơn cả giải thích của Thẩm Quát.  Học giả NVTA đã, vì một lý do nào đó, không xét tới chi tiết của đoạn sau để rồi “thông dịch” sai đoạn văn của Lã Hải Tập và, dựa trên lý luận tương tự như đã sử dụng với Thẩm Quát, đi đến kết luận là chúng ta cũng không thấy tính qui luật nào trong chính cách nạp âm Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán phù hợp với lập luận của Lã Hải Tập.”  Qua đoạn văn của Lã Hải Tập không khó cho chúng ta nhận ra là những quy luật nạp âm được ông giải thích thực sự không khác với những quy luật ở trong đoạn văn của Thẩm Quát.  Và những quy luật đó là: (1) lấy hành khí Âm [ông ta gọi là Dụng khí] để nạp; (2) khởi đầu là nạp hành Kim vào Giáp Tí (3) rồi sau đó nạp tiếp và phải tuân theo những quy luật là (3a) nạp cách bát và (3b) nạp đủ 3 lần [tam nguyên] xong thì chuyển qua hành kế; (4) hành chuyển theo thứ tự từ Kim tới Hỏa tới Mộc tới Thủy tới Thổ; (5) Can Chi vợ sẽ lấy theo hành khí của Can Chi chồng; (6) Từ Giáp Tí đến Quý Tỵ là tròn một vòng 30 năm đầu và từ Giáp Ngọ đến Quý Hợi là tròn một vòng 30 năm sau.  Lã Hải Tập không nói đến Tam Nguyên [Mạnh, Trọng, Quý] nhưng lại nói đến khí số và quy luật “5 Tí quy Canh” của đạo gia để giải thích nạp âm trong 60 Giáp Tí là lấy Dụng [thay vì Thể] của hành khí. 
Tuy vậy, học giả NVTA vẫn chỉ trích đúng ở chỗ “ngụy lý của Lã Hải Tập.    Cũng giống như trường hợp của Thẩm Quát, tuy là Lã Hải Tập có nắm vững những quy luật nạp âm nhưng bản thân ông lại không hiểu rõ nguyên lý nào đã làm nền tảng cho những quy luật đó.  Vì vậy những giải thích của ông chỉ là “gọt chân cho vừa giày” [theo ngôn ngữ của NVTA].  Chỉ trong hai câu võn vẹn Thuận hành là Thể của Ngũ Hành, lấy tương sinh làm thứ tự vì vậy dựa theo thứ tự làm Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ.  Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành, đem phù trợ làm gốc.  là chúng ta đã có thể nhìn ra sự ngụy biện.  Ở câu trước, quá rõ là ông nói tới quy luật Sinh trong lý thuyết ngũ hành phổ cập và đồng hóa “thuận hành” với “tương sinh.”  Càng rõ hơn khi ông xác định “thứ tự . . . Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ [Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim = quy luật Sinh của lý thuyết ngũ hành phổ cập]. Ở câu kế tiếp, ông nói nghịch hành nhưng lại không đồng hóa với “tương khắc.”  Nếu đã đồng hoá thì ông đã không nói “vì vậy thứ tự đó là Kim Hỏa Mộc Thủy Thổ.Mà thứ tự này thì không phải là thứ tự của quy luật Khắc trong lý thuyết ngũ hành phổ cập [quy luật Khắc trong ngũ hành phổ cập phải là Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim = thứ tự Kim Mộc Thổ Thủy Hỏa].  Còn như muốn hiểu nghịch hành là ngược lại thứ tự của tương sinh thì cũng không phải.  Vì với thứ tự Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ [tưởng tượng 5 hành nằm trên vòng tròn có thứ tự theo chiều kim đồng hồ] thì chiều ngược lại của thứ tự này [ngược lại chứ không phải Khắc] phải là Kim, Thổ, Hỏa, Mộc, Thủy [tưởng tượng 5 hành nằm trên vòng tròn có thứ tự theo chiều ngược kim đồng hồ].  Như vậy, phân tích thế nào đi nữa thì đoạn văn của Lã Hải tập vẫn không che dấu nổi những bất cập và lúng túng.  Càng tệ hơn là ông ta đã nhập nhằng Sinh với Khắc trong đoạn Nghịch hành là Dụng của Ngũ Hành, đem phù trợ làm gốc. Như Kim nhân Hỏa bắt đầu mà có thể thành hữu dụng, Hỏa tất bắt đầu từ Mộc mới có thể phát sinh, Mộc không có Thủy tức không được phong phú tốt tươi, Thủy hẳn thác gửi vào Thổ mới có thể dừng mà tích giữ được thành sông nước, vì vậy thứ tự đó là Kim Hỏa Mộc, Thủy Thổ.để cố gắng đi đến “vì vậy thứ tự đó là Kim Hỏa Mộc Thủy Thổ.  Lập luận kiểu đó là khiên cưỡng và gian lận, chưa nói tới những điều sai bét khác nằm trong những câu nói trên.  Rõ ràng là một cố gắng rất . . . tuyệt vọng. 
Chẳng lẻ Lã Hải Tập không nhận ra lập luận khiên cưỡng và gian lận của ông ta?  Tôi có thể trả lời câu hỏi này một cách quả quyết là Lã Hải Tập thấy rất rõ.  Vì nếu không thấy rõ thì ông ta đâu có bỏ công “gọt chân cho vừa giày” làm gì.  Cũng giống như tình trạng của Thẩm Quát, thực ra thì vì Lã Hải Tập bị kẹt trong lý thuyết ngũ hành phổ cập và không có lối thoát nên đành phải chấp nhận quy luật vận hành “ngoại đạo” theo cái thứ tự “Kim, Hỏa, Mộc, Thủy, Thổ không biết từ đâu ra rồi tìm cách mà ngụy biện để ra vẻ là cũng lĩnh hội và thông suốt như ai.  
Như tôi đã từng nói, cái gọi là “quy luật vận hành ngoại đạo” chỉ có Việt Dịch mới có đủ khả năng để giải thích.  Nhưng trước khi vận dụng Việt Dịch để làm sáng tỏ vấn đề, chúng ta muốn nghiên cứu thêm một vài đoạn trích dẫn từ sách của những học giả và danh sư khác để nhận diện đâu là cái mấu chốt của vấn đề trước đã.

Trong những người nghiên cứu về quy luật nạp âm của LTHG có một số rất thành thực và đã không ngại công khai sự mù mờ của mình, trong đó thì có tác giả của sách Khảo Nguyên.  Sách Khảo Nguyên đã viết:     

Nạp Âm Ngũ Hành bắt đầu Kim, thứ đến Hỏa, thứ đến Mộc, thứ đến Thủy, thứ đến Thổ, đã không có gốc đầu - cuối của nó, lại không dùng sinh khắc, vì vậy thuyết nầy chẳng biết nó ở đâu đến. Khảo sát rõ nghĩa của nó, đại để là theo lời dạy của tổ tiên lấy ý của Dịch tượng, tức là lý của Tiên Thiên – Hậu Thiên Bát Quái vậy.

Giáp Tí, Ất Sửu là Kim thượng nguyên; Nhâm Thân, Quý Dậu là Kim trung nguyên; Canh Thìn, Tân Tỵ là Kim hạ nguyên, tức Tam Nguyên thì đủ một vòng. Sau đó chuyển tới ở Mậu Tí, Kỷ Sửu là Hỏa thượng nguyên; Bính Thân Đinh Dậu là Hỏa trung nguyên, Giáp Thìn Ất Tỵ là Hỏa hạ nguyên. Từ đó về sau đều dựa vào thứ tự Kim, Hỏa, Mộc, Thủy, Thổ mà dùng nhạc luật cùng ngôi vị với thú thê (lấy vợ), phép cách bát sinh con, cuối cùng đến Đinh Tỵ mà nạp Âm tiểu thành vậy. Lại từ Giáp Ngọ, Ất Mùi là Kim thượng nguyên khởi như phép trước, đến cuối cùng ở Đinh Hợi, mà nạp Âm đại thành vậy.

Theo 10 Can, 12 Chi đan xen nhau là 60, năm âm (âm thanh), 12 luật nhân với nhau cũng là 60. Giáp Tí Kim, Ất Sửu cũng là Kim, lấy vợ cùng ngôi vị vậy. Ất Sửu Kim mà Nhâm Thân lại là Kim, cách bát sinh con vậy. Một lần đi tất cả Tam Nguyên mà sau chuyển sang đi tiếp, giống như Xuân có ba tháng mạnh-trọng-quí mà sau chuyển sang Hạ vậy. Từ Giáp Tí đến Đinh Tỵ mà Tam Nguyên Ngũ Hành được một vòng. Giống như Dịch đi ba vạch là tiểu thành vậy. Từ Giáp Ngọ đến Đinh Hợi mà Tam Nguyên Ngũ Hành lại được một vòng nữa, giống như Dịch đi sáu vạch là đại thành vậy. Cách lập phép đó đều ứng với luật lữ.[5]

Rõ ràng là sách Khảo Nguyên cũng xác định những quy luật nạp âm của LTHG.  Những quy luật đó không khác với những quy luật cho thấy ở những đoạn văn trước.  Và những quy luật mà sách Khảo Nguyên đưa ra là: (1) lấy hành khí Âm [dòng hành khí đi ngược chiều kim đồng hồ] để nạp; (2) khởi đầu là nạp hành Kim vào Giáp Tí (3) rồi sau đó nạp tiếp và phải tuân theo những quy luật là (3a) nạp cách bát và (3b) nạp đủ 3 lần [tam nguyên] xong thì chuyển qua hành kế; (4) hành chuyển theo thứ tự từ Kim tới Hỏa tới Mộc tới Thủy tới Thổ; (5) Can Chi vợ sẽ lấy theo hành khí của Can Chi chồng; (6) Từ Giáp Tí đến Quý Tỵ là tròn một vòng 30 năm đầu và từ Giáp Ngọ đến Quý Hợi là tròn một vòng 30 năm sau.  Sách Khảo Nguyên cũng có giải thích rằng Tam Nguyên tương ứng với ba tháng Mạnh, Trọng, Quí của từng mùa trong năm.     
Điều đáng chú ý là sách Khảo Nguyên đã nói “Nạp Âm Ngũ Hành bắt đầu Kim, thứ đến Hỏa, thứ đến Mộc, thứ đến Thủy, thứ đến Thổ, đã không có gốc đầu - cuối của nó, lại không dùng sinh khắc, vì vậy thuyết nầy chẳng biết nó ở đâu đến.  Trong câu này sách Khảo Nguyên cho thấy 4 điều:
 
·        Thứ nhất, cụm chữ “Nạp Âm Ngũ Hành bắt đầu Kim, thứ đến Hỏa, thứ đến Mộc, thứ đến Thủy, thứ đến Thổxác định thứ tự của ngũ hành trong nạp âm là Kim tới Hỏa tới Mộc tới Thủy tới Thổ, giống như hình phía dưới. 
·        Thứ hai, cụm chữ “không có gốc đầu-cuối của nóxác định thứ tự của ngũ hành trong nạp âm là theo cấu trúc của một vòng tròn, giống như hình phía dưới. 
·        Thứ ba, cụm chữ lại không dùng sinh khắcxác định là lý thuyết ngũ hành phổ cập không có chỗ đứng trong LTHG.  
·        Thứ tư, cụm chữ thuyết này chẳng biết nó ở đâu đếnxác định là toàn bộ kiến thức chứa đựng trong tất cả Hán thư không thể giải thích về cái vòng tròn Kim -> Hỏa -> Mộc -> Thủy và cuối cùng là Thổ.   

 
 Dựa trên những thông tin rút ra được từ những đoạn văn của Thẩm Quát, Lã Hải Tập và sách Khảo Nguyên [cùng một số khác không được trực tiếp đề cập đến ở đây nhưng được học giả NVTA trích dẫn trong Bí Ẩn 60 Hoa Giáp], nó đã quá rõ nét để chúng ta nhận diện được một số sự thật như sau: 
  1. Mọi người đều biết quy luật vận hành của khí.  Hành khí Dương thì khởi từ Đông Mộc và xoay thuận theo chiều kim đồng hồ. Hành khí Âm thì khởi từ Tây Kim và xoay ngược chiều kim đồng hồ.  Hai hành khí đan xen nhau mà phân phối khắp 8 phương.
  2. Mọi người đều biết những quy luật nạp âm của LTHG. 
  3. Nhưng không một ai có thể trưng ra một nguyên lý hay một mô hình khả dĩ có thể giải thích cho quy luật vận hành của khí cũng như giải thích cho những quy luật nạp âm. 

Và đồng thời sau lưng của những sự thật này chúng ta cũng nhận ra được những sự thật khác là:
  1. Lý thuyết ngũ hành phổ cập không đủ khả năng để giải thích quy luật nạp âm làm nên cấu trúc của bảng LTHG. 
  2. Những bế tắc không lối thoát buộc họ phải vận dụng ngụy lý và ngụy ngôn, như chúng ta đã phân tích, để giải thích và giải thích tuỳ tiện mỗi người một lối. 

Vậy thì vấn đề then chốt ở đây thực sự là gì?  Câu trả lời, theo ý kiến của tôi, có lẽ là:

  1. NHỮNG KHIÊN CƯỠNG, LÚNG TÚNG, BẤT CẬP LÀ HẬU QUẢ CỦA SỰ BẾ TẮC DO ĐÃ ĐÁNH MẤT MỘT MÔ HÌNH MẸĐẠI DIỆN CHO MỘT HỆ THỐNG NHẤT QUÁN TRONG ĐÓ CHO THẤY SỰ  KẾT HỢP CỦA NHỮNG NGUYÊN LÝ CỐT LÕI CÓ KHẢ NĂNG GIẢI THÍCH HẦU HẾT NHỮNG VẤN ĐỀ MỘT CÁCH KHOA HỌC VÀ CHÍNH XÁC. 

Vì thế mà học giả NVTA đã nói “Trải đã hàng ngàn năm, mặc dù hết sức cố gắng, những nhà nghiên cứu cổ kim vẫn không thể nào tìm ra được nguyên lý nào làm nên sự lập thành bảng nạp âm Lục thập hoa giáp.  Và đại danh sư Thiệu Vĩ Hoa đã tự thú “Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu.

Chúng ta có được cái gì thuyết phục hơn để hổ trợ cho cái giả thuyết vừa đưa ra?  Với câu hỏi này, bây giờ có lẽ là thời điểm thuận lợi nhất để cho Việt Dịch nhập cuộc để thử xem nó có trực tiếp trả lời được câu hỏi hay không, và như vậy cũng có nghĩa là có thể giúp soi sáng được vấn đề then chốt, trước khi xét tới những bí ẩn khác của LTHG.



[1] Trích trong Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Viện Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
[2] Trích trong Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Viện Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
[3] Trích trong Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Viện Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
[4] Trích trong Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Viện Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
[5] Trích trong Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Viện Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.  Tác giả đã chỉnh từ Đinh qua Quý vì nghĩ rằng đó là lỗi do typing chứ không phải chủ ý.




Giải Mã Bí Ẩn Lục Thập Hoa Giáp - Hà Hưng Quốc (#1)

Những bí ẩn của Lục Thập Hoa Giáp hoàn toàn phơi bày dưới lăng kính Việt Dịch. Cách tiếp cận mới đưa đến những khám phá lạ khiến chúng ta tự hỏi phải chăng tổ tiên Lạc Việt mới chính là chủ nhân đích thực của Bảng Lục Thập Hoa Giáp?

Bảng Lục Thập Hoa Giáp (LTHG) là một sản phẩm đã tồn tại rất nhiều năm, được ghi nhận từ lâu rồi trong những cổ thư Hán.  Bản thân của LTHG lại là một sản phẩm được đem vào hầu hết trong mọi ứng dụng của lý số.  Đáng lẽ với một chiều dài thời gian như vậy và với sự phổ cập như vậy thì người Hoa, hay nói chính xác hơn là những học giả và danh sư lý số người Hoa, phải hiểu rõ về nó mới phải.  Nhưng dường như từ xưa cho đến giờ tất cả những bàn bàn luận luận của họ đều dựa trên những khái niệm rất mơ hồ và tùy tiện.  Họ không biết từ nguyên lý nào mà quy luật nạp âm được hình thành và theo đó là cho ra nội dung của bảng LTHG.  Sách Khảo Nguyên đã viết: “. . . chẳng biết nó ở đâu đến.  Khảo sát rõ nghĩa của nó, đại để là theo lời dạy của tổ tiên lấy ý của Dịch tượng, tức là lý của Tiên Thiên – Hậu Thiên Bát Quái vậy.”[1]  Thiệu Vĩ Hoa, một nhà nghiên cứu gốc Hoa hiện đại và rất nổi tiếng, cũng thừa nhận “Nạp âm ngũ hành trong bảng 60 Giáp Tý căn cứ theo nguyên tắc gì để xác định; người xưa tuy có bàn đến nhưng không có căn cứ rõ ràng và cũng chưa bàn được minh bạch. Do đó vẫn là huyền bí khó hiểu. Bảng 60 Giáp Tý biến hoá vô cùng; đối với giới học thuật của Trung Quốc cho đến nay vẫn là huyền bí khó hiểu.”[2]  Bảng 60 Giáp Tý  là một cách gọi khác của bảng LTHG. 
Chính vì sự ù ù cạc cạc này của các học giả và danh sư lý số gốc Hoa mà học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh (NVTA) của Việt Nam đã có nhận xét “bảng nạp âm hoa giáp 60 năm . . . cũng không tránh khỏi một hiện tượng chung cho tất cả các phương pháp ứng dụng khác của thuyết Âm Dương Ngũ hành là không có một nguyên lý lý thuyết làm tiền đề cho sự tồn tại của nó. Và là một điều bí ẩn trải hàng ngàn năm - Kể từ khi nền văn hiến vĩ đại của người Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử.”  Và ông mạnh miệng cho rằng “Bức màn huyền bí của văn minh Đông phương chỉ có thể được hé mở khi tìm về cội nguồn đích thực của nó là lịch sử 5000 văn hiến của người Lạc Việt.[3] 
Không khó cho người ta nhận ra số lượng không nhỏ của những dấu vết văn hoá “nguyên thủy vốn không phải là của người Hán” dọc theo chiều dài bức tường Vạn Lý Trường Thành của văn hoá Trung Quốc.  Hệ quả tất yếu không thể dấu diếm từ sự cưỡng đoạt văn hoá, nhất là cưỡng đoạt văn hóa Bách Việt, là đã để lại những lỗ trống trên mặt bằng kiến thức của các học giả và danh sư gốc Hoa.  Tự họ thấy rõ những lỗ trống đó nhưng không thể nào san lấp cho đầy [tác giả sẽ chứng minh về phát biểu này của mình ngay trong bài viết này].  Cho nên sự phủ nhận bản quyền lý học Đông Phương thuộc về người Hán của học giả NVTA không phải là không có nền tảng.[4]   
Rồi học giả NVTA cũng đã triển khai lý luận để chứng minh là nội dung của bảng LTHG đã sai lạc ở hai hành Thủy và Hoả, dựa trên quy luật ngũ hành tương sinh và Hà Đồ, và đưa ra một bảng nạp âm khác trong đó hai hành Thủy và Hoả được hoán chuyển vị trí của nhau.  Sự hoán chuyển vị trí của hai hành này dẫn sự phân phối rất ngăn nắp 5 vận khí, từ vận 1 cho thấy vận khí khắc thiên can cho đến vận 5 cho thấy thiên can khắc vận khí, đi theo vòng kim đồng hồ.
Phải nhìn nhận là chính công trình nghiên cứu này của học giả NVTA đã khơi dậy sự tò mò của tôi và vì thế tôi muốn truy cứu --và truy cứu một cách khác-- để giải mã những bí ẩn nằm trong LTHG.  Với tôi, những vấn đề được đặc biệt quan tâm và muốn có câu trả lời là:
  1. Việt Dịch có khả năng giải thích là dựa vào nguyên lý nào mà có những quy luật Ngũ Hành Nạp Âm để rồi theo đó tạo tác ra nội dung của LTHG ?
  2. Việt Dịch có thể chứng minh được sự chính xác (hoặc không chính xác) trong cấu trúc và sự hữu lý (hoặc không hữu lý) trong nội hàm của LTHG?
  3. Bảng LTHG có được mức độ khả tín cao hay không, đánh giá một cách tổng quát sau khi đã có đáp án cho hai câu hỏi trên?      

Và, nếu như Việt Dịch có thể giúp giải mã những bí ẩn của LTHG một cách trọn vẹn thì liệu là qua tiến trình đó có thể nào:
  1. Chứng minh được tinh yếu của Việt Dịch là chìa khoá để hiểu LTHG?
  2. Chứng minh được sự dung nạp của Việt Dịch, đối với Ngũ Hành Nạp Âm nói chung và LTHG nói riêng?
  3. Chứng minh được lý thuyết ngũ hành nguyên thủy trong Việt Dịch là có cơ sở vững chắc?

Điều bất ngờ là trong tiến trình tìm hiểu tôi đã tình cờ khám phá ra một điều vô cùng lý thú.  Đó là, dường như có dấu ấn Lạc Việt trong nội dung của Bảng Lục Thập Hoa Giáp.  Nếu đúng như tôi nghĩ thì khám phá này có lẽ quan trọng hơn cả những vấn đề mà lúc đầu tôi đã quan tâm.  Dĩ nhiên đây là quan điểm cá nhân.

Tôi sẽ không tốn thời gian để lập lại những gì mà những học giả và danh sư lý số gốc Hoa đã viết từ xưa đến giờ.  Cũng không lập lại những gì mà học giả NVTA đã viết.  Và lại càng không muốn sử dụng những vật liệu xưa cũ đã từng được hàng khối người nhai đi nhai lại để bênh vực hay phản biện.  Như đã nói, tôi muốn tiếp cận LTHG một cách hoàn toàn mới: nhìn qua lăng kính Việt Dịch.
Việt Dịch là một hệ thống lý luận mới mẻ và hãy còn xa lạ đối với cộng đồng nghiên cứu lý số.  Chính vì sự xa lạ này cho nên tôi sẽ phải trích dẫn nguyên văn từ Việt Dịch khá nhiều và lập đi lập lại cũng khá nhiều.  Điều này có thể làm người đọc ít kiên nhẫn cảm thấy khó chịu.  Biết vậy nhưng chỉ đành phải xin lỗi trước và buộc phải làm như vậy thôi.
Để có thể lĩnh hội trọn vẹn những gì sắp được trình bày ở đây, những ai trong chúng ta chưa có cơ hội tham khảo những bài viết Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của học giả NVTA và quyển sách Việt Dịch của tác giả Hà Hưng Quốc thì hãy nên làm điều đó trước hoặc là sau khi đọc bài viết này.  Ở đây tôi chỉ có thể trình bày phớt qua để dọn đường đi vào phần phân tích nguyên lý hình thành quy luật để thiết lập cấu trúc của bảng Lục Thập Hoa Giáp; do đó, nó sẽ không thể làm hết được công việc giải thích về Việt Dịch cũng như về những vấn đề mà học giả NVTA đã bỏ công nghiên cứu, và như vậy sẽ làm mất đi phần nào lý thú và sức thuyết phục của bài viết này nếu đọc giả bỏ qua việc tham khảo thêm tài liệu như đã đề nghị. Website Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương (www.lyhocdongphuong. org.vn) có đầy đủ những bài viết của học giả NVTA. Còn quyển Việt Dịch của tác giả Hà Hưng Quốc thì có thể download ở website Scribd (www. scribd.com) hoặc website docstoc (www. docstoc.com) hoặc tại một số thư viện online [dùng search engine đánh vào “Hà Hưng Quốc” hay “Việt Dịch” [trong dấu ngoặc kép] sẽ thấy nhiều chỗ để truy cập] hoặc là vào blog “vươn ươm Việt Dịch” tại địa chỉ www.vietdich.blogspot.com/p/viet-dich.html để đọc.


1. VIỆT DỊCH GIẢN LƯỢC
A. Việt Dịch Đồ
Tinh yếu của Việt Dịch nằm ở một đồ hình H27 bên dưới, gọi là Việt Dịch Đồ, trong đó sự kết hợp giữa Hậu Thiên Bát Quái với Hà Đồ cho ra hai phiên bản nằm chồng lên nhau nhưng một nằm ở bên trong với sự vận hành nghịch chiều kim đồng hồ và một nằm ở vòng ngoài với sự vận hành theo chiều kim đồng hồ.  Vòng bên ngoài đại diện cho sự thể hiện, hành khí dương, ngoại giới, thiên nhiên, hoặc khách thể.  Vòng bên trong đại diện cho sự tiềm ẩn, hành khí âm, nội giới, con người, hoặc chủ thể. 


Việt Dịch Đồ thoát thai từ hai hai vế [2 cụm chữ] chứa đựng huyền nghĩa thâm sâu.  Vế thứ nhất là “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật.”   Vế thứ hai là “Thiên Nhất sanh Thủy, Địa Lục thành chi, Địa Nhị sanh Hỏa, Thiên Thất thành chi, Thiên Tam sanh Mộc, Địa Bát thành chi, Địa Tứ sanh Kim, Thiên Cửu thành chi, Thiên Ngũ sanh thổ, Địa Thập thành chi.  Hai vế tổng cộng có tất cả 67 lời.  Và sáu mươi bảy lời đó là “tổng trì của Việt Dịch.        
Nhìn sâu vào Việt Dịch Đồ chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra ba điểm quan trọng:
  • Điểm thứ nhất là Hậu Thiên Bát Quái (HTBQ) trong Việt Dịch Đồ không giống với bất cứ phiên bản nào từ trước đến nay.  So với những phiên bản của người Hoa thì khác rất xa.  HTBQ của Văn Vương chỉ có được 3 quái Càn, Khảm, Cấn là trùng vị trí với các quái trong Việt Dịch Đồ còn 5 quái kia đều sai chỗ.  So với HTBQ của Lạc Việt thì thấy có phần gần nhau.  Có đến 5 quái trong HTBQ của Lạc Việt là Càn, Khảm, Cấn, Khôn, Ly trùng vị trí với các quái trong Việt Dịch Đồ còn 3 quái kia thì sai chỗ. 
  • Điểm thứ hai là Thiên Can, Địa Chi, Âm Dương, Độ Số, Ngũ Hành và Bát Quái trong Việt Dịch Đồ luôn luôn đi chung nhau thành 9 tập hợp, dầu là vận hành thuận chiều kim đồng hồ hay nghịch chiều kim đồng hồ, dầu là phối vào 9 cung bàn hay phối vào 12 cung bàn.  Nhìn vào hình Việt Dịch Đồ là chúng ta đã có thể nhận ra “sự kết hợp bất khả lycủa những yếu tố này trong mỗi cụm.  Và vì vậy, khi đã nhận ra điều này trên Việt Dịch Đồ thì chúng ta cũng sẽ nhận ra là, HTBQ vòng ngoài thật ra không khác HTBQ vòng trong. 
  • Điểm thứ ba là Hà Đồ không phối với HTBQ [theo ý nghĩa thông thường phối là kết hợp chúng lại với nhau] mà Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái thực ra là một đôi song sinh trong một tổng thể hợp nhất bao gồm các yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành, Độ Số, Thiên Can, Địa Chi và Bát Quái [do đó nếu muốn thì có thể tách chúng ra làm hai chứ tự bản thân thì chúng đã được đẻ ra trong cùng một bọc].


B. Hà Đồ, Ngũ Hành và Nguyên Lý Vận Hành
Trong tiến trình đưa đến Việt Dịch Đồ, vế thứ hai trong 67 lời mật ngữ là Thiên Nhất sanh Thủy, Địa Lục thành chi, Địa Nhị sanh Hỏa, Thiên Thất thành chi, Thiên Tam sanh Mộc, Địa Bát thành chi, Địa Tứ sanh Kim, Thiên Cửu thành chi, Thiên Ngũ sanh thổ, Địa Thập thành chi.đã được tác giả của Việt Dịch giải mã tường tận là Càn sinh Thuỷ rồi sinh Mộc, Khôn sinh Hỏa rồi sinh Kim, sau hết là sinh Thổ.   Ý nghĩa của cụm chữ màu xanh này là xác định vị trí 5 thiên thể và chiều xoay cơ bản, mà Càn-Khôn là trục, trong tương quan giữa mặt đất và bầu  trời.  Xem hình H21.  

    
Cũng từ cụm chữ màu xanh này mà quy luật vận hành cơ bản của ngũ hành được xác định là từ Thuỷ tới Mộc tới Hoả tới Kim rồi Thổ ở trung tâm.  Hay trình bày một cách khác là Thủy -> Mộc -> Hỏa -> Kim -> Thổ ở trung tâm


C. Từ Hà Đồ, Ngũ Hành & Nguyên Lý Vận Hành
Dẫn Tới Hậu Thiên Bát Quái & Việt Dịch Đồ         
Cũng là thông tin có được từ vế thứ 2 của 67 lời bí ẩn cho biết vị trí của trục Càn-Khôn và chiều vận hành, một cánh cửa bí mật khác lại được mở ra với chiếc chìa khoá đó: Bát Quái Hậu Thiên.  Việt Dịch đã viết:

Một khi trục không gian Càn-Khôn lìa bỏ chính vị để về nằm cạnh trục năng lượng Khảm-Ly thì hai trục còn lại, trục vật chất hữu hình Đoài-Cấn và trục vật chất vô hình Chấn-Tốn, bắt buộc phải về nằm cạnh nhau.  Sự tái phối trí các trục để chuyển Tiên Thiên Bát Quái Đồ thành Hậu Thiên Bát Quái Đồ diễn ra theo tiến trình (1) trục Càn-Khôn rời vị trí [tiên thiên] ban đầu của nó và xoay thuận 1/8 vòng tròn [xoay 45 độ theo chiều xoay cơ bản, là chiều kim đồng hồ] về nằm cạnh trục Khảm-Ly [như xác định được trong hai đồ hình 20, 21] chiếm vị trí của trục Chấn-Tốn, theo đó (2) trục Chấn-Tốn bị đẩy ra khỏi vị trí của nó và xoay thuận 3/8 vòng tròn [xoay 135 độ theo chiều xoay cơ bản, là chiều kim đồng hồ] trám vào chỗ trống vị trí do trục Càn-Khôn bỏ lại, như trong hình H23.   

 
Hay nói một cách khác là trục Càn-Khôn và trục Chấn-Tốn hoán đổi vị trí cho nhau nhưng sự hoán đổi tuân thủ quy luật thuận hành [thay vì Càn-Khôn qua Chấn-Tốn, Chấn-Tốn qua Càn-Khôn theo chiều một thuận một nghịch].  Như vậy thì “Càn Khôn thất chính” đã biến Tiên Thiên Bát Quái thành ra Hậu Thiên Bát Quái.  Và Hậu Thiên Bát Quái Đồ sau khi điều chỉnh để trục Khảm-Ly nằm theo hướng Bắc-Nam thì nó sẽ giống với hình H24.  


Chưa hết, cũng từ thông tin chứa đựng trong cụm chữ bí ẩn đó, chúng ta có thể tìm ta ra sự liên hệ mật thiết giữa Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái.  Chồng Hậu Thiên Bát Quái lên Hà Đồ chúng ta sẽ có được cái mà ngôn ngữ dịch học gọi là “Hậu Thiên Bát Quái phối Hà Đồ” giống như hình H25.  



Tuy nói là phối nhưng chữ phối có vẻ không hợp lý.  Phối là đem cái này ráp với cái kia, là tìm cách cho cái này ăn khớp với cái kia, và cho kết quả là ráp đúng hay ráp sai.  Còn ở đây Hậu Thiên Bát Quái và Hà Đồ “phải đi chung” với nhau vì là một cặp song sinh, đã tự ăn khớp với nhau vì là hai phần bất khả ly của một tổng thể được cổ thánh mã hóa vào cụm chữ bí ẩn.  Chức năng của cái này chỉ có thể phát huy trọn vẹn hoặc ý nghĩa của cái này chỉ có thể được hiểu trọn vẹn khi có mặt của cái kia cùng lúc.  Và, chức năng của tổng thể chỉ có thể phát huy trọn vẹn hoặc ý nghĩa của tổng thể chỉ có thể được hiểu trọn vẹn khi có mặt của hai cái cùng lúc.  Và với một tổng thể thì vấn đề chỉ có thể là tìm cách cho cái này tách rời ra khỏi cái kia và chỉ có sự chọn lựa là cho cái này tách rời cái kia hay không mà thôi.  Hay nói một cách khác nó là một tiến trình hoàn toàn ngược lại với phối.  Tuy nhiên chúng ta cứ tạm gọi là “Hậu Thiên Bát Quái phối Hà Đồ” như trước đi.  Sở dĩ chúng ta phải nói đến điều này là vì muốn nhấn mạnh tính chất quan trọng của cái gọi là “bất khả ly” đối với việc tìm hiểu cái tổng thể mà chúng ta sẽ nói đến và muốn cho mọi người thấy rằng câu hỏi Hậu Thiên Bát Quái đi chung với Hà Đồ là đúng hay sai sẽ không còn là một nghi vấn cần thiết nữa.  
  Bát Quái thì 4 tượng đã thể hiện qua 4 trục và đã phân ra thành 8 quái. Hà Đồ chuyển động. Tiên thiên dịch hành theo chiều xoay cơ bản. Vì thế, hậu thiên độ số xuất hiện như chạy ngược kim đồng hồ.  Bốn cặp số Hà Đồ phân bố ra 8 vị trí.  Tám số Hà Đồ phối với 8 quái Hậu Thiên.  Xem hình H26A.   Vòng cung đỏ để chỉ chiều xoay cơ bản [thuận hành] còn vòng cung xanh để chỉ Quái-Số phân bố theo tiên thiên dịch hành. 


 
Tiếp theo sau sự kết hợp của số với quái, hậu thiên dịch hành theo chiều xoay cơ bản.  Hậu thiên độ số xuất hiện như chạy trước tiên thiên độ số theo chiều kim đồng hồ.  Tám số Hà Đồ phối với tám hướng của Ngũ Hành Phương Vị [cũng có nghĩa là Quái-Số của Hà Đồ Bát Quái phối với Thiên Can Ngũ Hành].  Xem hình H26B.   Vòng cung đỏ để chỉ chiều xoay cơ bản [thuận hành] còn những đường tên đen để chỉ Quái-Số phân bố theo hậu thiên dịch hành.



Khi hai dòng chuyển dịch thể hiện cùng một lúc với chuyển dịch tiên thiên nằm bên trong và chuyển dịch hậu thiên nằm bên ngoài, tức là thể hiện sự chuyển động trọn vẹn của Hà Đồ, thì chúng ta sẽ có được một đồ hình tổng thể trong đó độ số, bát quái, ngũ hành, thiên can, địa chi và những thông tin khác tạo thành một cấu trúc hợp nhất và trọn vẹn giống như hình H27.  Và từ giờ trở đi chúng ta sẽ gọi đồ hình này là Việt Dịch Đồ. 



Như chúng ta nhìn thấy, trên Việt Dịch Đồ có tất cả 8 cụm thông tin chính yếu.  Mỗi cụm thông tin kết hợp những phần tử của nó lại với nhau và bất khả ly.  Khi nói tới một phần tử nào của cụm cũng là nói tới toàn cụm.  Nói một cách khác, hoán vị của bất cứ phần tử nào ra khỏi cụm của nó hoặc bất cứ cụm nào ra khỏi vị trí của nó sẽ phá họai cấu trúc của cụm và cấu trúc của Việt Dịch Đồ.” (Nguồn: Việt Dịch – Hà Hưng Quốc).
           
Với cấu trúc 8 quái Hậu Thiên phối với 8 số của Hà Đồ cộng với sự vận hành Tiên Thiên và Hậu Thiên mà Việt Dịch Đồ xuất hiện.

Việt Dịch Đồ là tinh yếu của Việt Dịch.  Và như trong sách Việt Dịch đã viết:

Việt Dịch Đồ được cho là ‘một kết hợp trọn vẹn và kỳ ảo’ là vì việc trời, việc đất, việc người đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý của trời, lý của đất, lý của người đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự của cá nhân, lý sự của tập thể, lý sự của nhân loại đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự vô hình, lý sự hữu hình, lý sự qui ước đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó hàm chứa minh triết của Đông Phương.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó vạch ra phạm trù đồng quy và hiệp nhất của các giáo lý Đông Tây.  (Nguồn: Việt Dịch – Hà Hưng Quốc).


D. Từ Việt Dịch Đồ Tới Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy
Liên quan đến vấn đề Thuyết Ngũ Hành, trong sách Việt Dịch cũng có viết:

“Với Việt Dịch Đồ, hình H27, nó không khó cho chúng ta nhận ra là toàn bộ lý thuyết ngũ hành đã nằm ẩn trong đó.  Một trong những thể hiện quan trọng của Việt Dịch Đồ là hai dòng hành khí vận hành ngược chiều nhau, dòng hành khí nằm ở vòng bên ngoài vận hành theo chiều kim đồng hồ còn dòng hành khí nằm ở vòng bên trong vận hành ngược chiều kim đồng hồ.  Chú ý ở điểm là cả hai chiều vận hành đều là thuận hành.  Hay nói cách khác theo ngôn ngữ Ngũ Hành là chiều kim đồng hồ lẫn chiều ngược kim đồng hồ đều là chiều sinh.  Như vậy, với 5 hành ở 5 phương vị và với hai dòng hành khí vận hành ngược chiều nhau, lý thuyết ngũ hành nguyên thủy đã tự thể hiện đầy đủ mà không cần sự trợ giúp nào từ bên ngoài.  Gọi lý thuyết ngũ hành nằm ẩn trong Việt Dịch Đồ này là Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy.
Để giúp cho thấy rõ hơn, chúng ta có thể đơn giản hóa Việt Dịch Đồ và minh họa thành một mô hình riêng cho lý thuyết ngũ hành, trong đó hành Thổ nằm ở trung tâm còn 4 hành Thủy, Mộc, Hỏa, Kim nằm trên một vòng tròn với quy luật sinh vận hành hai chiều ngược nhau.  Chính đặc tính sinh hai chiều này nên nó được gọi là tương sinh.  Hay nói cách khác, hai hành nằm cạnh nhau thì tương sinh.  Và, suy ra, hai hành đối lập nhau thì tương khắc.  Lý thuyết ngũ hành nguyên thủy có thể tóm gọn và so sánh với lý thuyết ngũ hành phổ cập như trong hình H45. 

       
Như chúng ta đã thấy, tuyệt đối không có một chút chứng cớ nào cho sự hiện hữu của lý thyết ngũ hành phổ cập.  Không thấy ngũ hành là 5 loại vật chất cũng không thấy sinh khắc theo hai quy luật của thuyết ngũ hành phổ cập.”  (Nguồn: Việt Dịch – Hà Hưng Quốc).


Lý thuyết ngũ hành nguyên thủy của Việt Dịch khác xa với lý thuyết ngũ hành phổ cập mà mọi người đều biết.  Sự khác biệt nhau nằm ở chỗ:

  1. Lý thuyết ngũ hành nguyên thủy có nguồn gốc từ thiên văn.  Lý thuyết ngũ hành phổ cập có nguồn gốc từ năm loại vật chất.   
  2. Lý thuyết ngũ hành nguyên thủy coi chức năng và sức mạnh của 5 hành là 4+1. Chức năng và sức mạnh của 4 hành Thủy, Mộc, Hỏa, Kim ngang nhau nhưng riêng hành Thổ thì trội hơn 4 hành kia.  Chức năng căn bản của hành Thủy là để định hướng Bắc và cho độ số +1, -6.  Từ chỗ đó những tương quan được ghi nhận và những qui ước được thành lập.  Chức năng căn bản của hành Mộc là để xác định hướng Đông và cho độ số +3, -8.  Từ chỗ đó những tương quan được ghi nhận và những qui ước được thành lập.  Chức năng căn bản của hành Hỏa là để xác định hướng Nam và cho độ số +7, -2.  Từ chỗ đó những tương quan được ghi nhận và những qui ước được thành lập.  Chức năng căn bản của hành Kim là xác định hướng Tây và cho độ số là +9, -4. Từ chỗ đó những tương quan được ghi nhận và những qui ước được thành lập.  Chức năng của hành Thổ là xác định điểm trung tâm của 4 hướng và cho độ số +5, -10.  Theo đó, hành Thổ làm trung gian cho 4 hành kia và dung nạp được cả 4 hành kia.  Trong khi đó thì lý thuyết ngũ hành phổ cập coi sức mạnh và chức năng của năm hành Thủy, Mộc, Hoả, Thổ, Kim đều ngang nhau.  Tính bình đẳng thể hiện qua hai quy luật sinh khắc.
  3. Lý thuyết ngũ hành nguyên thủy của Việt Dịch không diễn giải Sinh và Khắc theo cách của lý thuyết ngũ hành phổ cập.  Với Việt Dịch thì hai hành tiếp cận nhau thì Sinh, dầu là vận hành theo chiều kim đồng hồ hay ngược chiều kim đồng hồ.  Hai hành đối lập nhau là Khắc.  Chú ý là Việt Dịch chỉ nói vận hành theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ chứ không có nói thuận hành hoặc nghịch hành.  Mọi vận hành, dầu ngược chiều kim đồng hồ hay theo chiều kim đồng hồ, đều là thuận hành trong cái nhu cầu riêng của chủ thể chi phối sự vận hành đó.   

Bây giờ thì chúng ta có tạm đủ một số thông tin về Việt Dịch cho nên tôi sẽ dừng lại phần giản lược ở đây.  Bước kế tiếp là chúng ta hãy thử lắng nghe những học giả và danh sư lý số nói gì về Bảng Lục Thập Hoa Giáp và thử phân tích những điều nghe thấy được liên quan đến LTHG.

 

[1] Trích trong Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương
[2] Tái trích: Chu Dịch và Dự Đoán Học của Thiệu Vĩ Hoa, trang 68, NXB Văn Hoá Thông Tin 1996. Nguồn: Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương. 
[3] Nguồn: Bí Ẩn 60 Hoa Giáp của Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương.
[4] Theo ý nghĩ của cá nhân tác giả, chúng ta không nên ngần ngại đặt lại mọi vấn đề và lao vào khai quật tất cả mặt bằng văn hóa Hán cũng như mặt bằng văn hoá Việt để truy tìm những bằng chứng đòi lại bản quyền thuộc về Lạc Việt.  Chúng ta có may mắn sống giữa kỹ nguyên mà thông tin tràn ngập.  Nếu không bắt tay ngay từ bây giờ thì đợi đến bao giờ?  Và dầu là sự thật phơi bày từ những khai quật đó có tạm thời đốt cháy toàn bộ hệ thống kiến thức hiện hữu của bất cứ cá nhân nào đi nữa thì từ tro than đó cũng sẽ có khả năng bay lên một con hỏa phượng mới.  Tại sao phải ngần ngại?  Biết hoài nghi và luôn luôn hướng tới những khám phá mới không phải là thiên năng và thiên chức của những học giả hay sao?



Friday, October 29, 2010

Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#18)


Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời
trở về: Việt Dịch - bài 17

8. VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ MINH TRIẾT CỦA DỊCH
Việt Dịch Đồ được cho là “một kết hợp trọn vẹn và kỳ ảo” là vì việc trời, việc đất, việc người đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý của trời, lý của đất, lý của người đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự của cá nhân, lý sự của tập thể, lý sự của nhân loại đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự vô hình, lý sự hữu hình, lý sự qui ước đồng thể hiện.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó hàm chứa minh triết của đông phương.  Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó vạch ra phạm trù đồng quy và hiệp nhất của các giáo lý đông tây. 
Với hình học, chúng ta biết những vòng tròn đồng tâm O thì chỉ có một tâm điểm O ở giữa.  Rời khỏi tâm điểm O đi dần ra ngoài thì có vô lượng vòng tròn bán kính r=n, từ số dương n>0 tiến tới số dương cực lớn và mỗi vòng tròn cũng có vô số điểm nằm trên vòng tròn đó.  Một điểm của tâm O thì không xê dịch nhưng một điểm ngoài tâm O thì có thể chuyển động trên quỷ đạo gọi là vòng tròn và cứ mỗi một vòng tròn thì gồm vô lượng điểm cách tâm O một khoảng cách r không đổi.
Với Việt Dịch Đồ, tâm trung là Thổ của Ngũ Hành, là Mậu Kỷ của Thiên Can, là Thái Cực của Bát Quái.  Vòng ngoài là chỗ của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa tương tác; là chỗ của Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài thể hiện, là chỗ của Âm, Dương chuyển dịch; là chỗ của Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quí chia vạch thời không.         
Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết, thì vòng ngoài là chỗ của nhiều còn tâm trung là nơi của một.  Vòng ngoài là trú xứ của sinh sinh hoá hóa còn tâm trung là trú xứ của diệu diệu huyền huyền.  Từ tâm đi ra ngoài là hướng ngoại, từ ngoài trở về tâm là hướng nội.  Từ tâm đi ra ngoài là con đường của nhơn dục còn từ ngoài trở về tâm là con đường của thiên lý. Hướng ngoại để có nhiều, hướng nội để giữ một.  Theo nhiều là lý do của điên đảo, quay cuồng.  Giữ một là cái gốc của thường tịnh lặng lẽ.  Tâm trung là đền thánh của nhơn sanh, tiến vào đền thánh lễ bái không ngoài một chữ Tín của đức Thổ.  Vòng ngoài là nhà lửa của tam giới, lìa bỏ đền thánh để chui vào nhà lửa vui đùa không ngoài một chữ dục của vọng ý. 
Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết, tâm trung là chỗ để giữ đạo tam tòng: tòng thiên, tòng địa và tòng nhân.  Vòng ngoài là chỗ để giới trì tứ đức: đức Nhân của Mộc, đức Nghĩa của Kim, đức Trí của Thủy, đức Lễ của Hỏa.  Thế nào là giữ đạo tam tòng?  Trời vốn “dĩ dị tri” đất vốn “dĩ giản năng.”  Mà giản dị thì “dị tắc dị tri, giản tắc dị tòng[1] dễ biết dễ theo.  Một khi đã dễ biết dễ theo thì có lắm người biết nhiều người theo do đó mà thành tựu công nghiệp lớn “dị tri tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công, hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại, khả cửu tắc hiền nhân chi đức, khả đại tắc hiền nhân chi nghiệp.”[2]  Nắm được đạo lý giản dị là nắm được đạo lý trong thiên hạ.  Đã nắm được đạo lý trong thiên hạ thì đứng giữa cùng với trời và đất “dị giản nhi thiên hạ chi lí đắc hĩ, thiên hạ chi lý đắc nhi thành vị hồ kì trung hĩ.”[3]  Đứng chung được với trời đất tức là đã giữ đạo tam tòng.  Thế nào là giới trì tứ đức?  Trời đất không có tư tâm, thánh nhân không có tư tâm, cho nên mới nói trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm, thánh nhân bất nhân coi bá tánh như chó rơm, “thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu, thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.”[4]  Trời đất hành sự chẳng vì mình cũng chẳng vì ai.  Thánh nhân hành sự chẳng vì mình cũng chẳng vì ai.  Hành sự chẳng vì mình cũng chẳng vì ai chánh thật là giới trì.  Ở giữa thiên hạ, lấy thiên hạ làm lòng mình, coi hết thảy như trẻ thơ, “tại thiên hạ, hấp hấp vị thiên hạ hỗn kỳ tâm, thánh nhân dai hài nhi,”[5] đó chánh thật là đức nhân.  Lấy đạo giúp cho người lãnh đạo, không lấy bạo quyền cưỡng bức thiên hạ, “dĩ đạo tá nhân chủ dả, bất dĩ binh cường thiên hạ,” giữ cái vô danh mộc mạc để trí vô dục, tâm yên tịnh, thiên hạ được bình yên “dĩ vô danh chi phác, vô danh chi phác phù diệc tương vô dục, bất dục chi tỉnh, thiên hạ tương tự định,”[6] đó mới chánh thật là đức nghĩa.  Không can thiệp dân sẽ tự nhiên vô tư, không áp bức dân sẽ tự nhiên ngay thẳng, không bày vẽ dân sẽ tự nhiên giàu có, không tham lam dân sẽ tự nhiên thật thà, “ngã vô vi nhi dân tự hóa, ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nghi dân tự phú, ngã vô dục nhi dân tự phác,”[7] cho nên lấy ngay thẳng mà trị quốc, lấy vô sự mà giữ yên thiên hạ, “dĩ chính trị quốc . . . dĩ vô sự thủ thiên hạ,”[8] giúp dân từ bỏ cái quá độ để quay về với tự nhiên, “phục chúng nhân chi sở quá, dĩ phụ vạn vật chi tự nhiên,”[9] lấy thấp làm nền, lấy hèn là gốc “dĩ tiện vi bản, dĩ hạ vi cơ” để ngồi trên mà dân không thấy nặng, ở trước mà dân không thấy ngại, “xử thượng nhi dân bất trọng, xử tiền nhi dân bất hại,”[10] đó mới chánh thật là đức lễ.  Biết đủ không nhục, biết ngừng không nguy, được cái lâu bền, “tri túc bất nhục, tri chỉ bất đải, khả dĩ trường cửu,”[11] làm trọn vẹn mà dường như dở dang nhưng dùng mãi chẳng hư, có đầy đủ mà dường như trống rỗng nhưng dùng mãi không hết, rất ngay thẳng mà như cong, rất hay mà như dở, rất hùng biện mà như ấp úng, “đại thành nhược khuyết kỳ dung bất lệ, đại doanh nhược xung kỳ dụng bất cùng, đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nột,”[12]  không ra cửa mà biết khắp thiên hạ, thấy rõ đạo trời, “bất xuất hạ tri thiên hạ, bất khuy dũ kiến thiên đạo,”[13] quay về gốc tịnh, phục mệnh thường hằng, “chí hư cực . . . phục mệnh viết hằng,”[14] đó mới chánh thật là đức trí.  Ở chỗ điên đảo, quay cuồng mà vẫn ung dung tự tại là nhờ trong không xa đạo tam tòng ngoài không lìa giới trì tứ đức.  Giữ đạo tam tòng, giới trì tứ đức là cung cách của hiền thánh.          
Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết, tâm trung là trái tim nguyên thể và vô nhiễm.  Vòng ngoài là nơi đã làm cho máu của Đức Chúa chảy ra.  Ngài “có khả năng chuyển hóa, đem tù hãm tối tăm, đốt tan trong ánh sáng, những nghiêng lệch tạm thời, bỗng chốc về đúng chỗ, trời người đất dung thông, thế giới hoát đại đồng, thiêng liêng và huyền nhiệm[15] là vì tâm nội chưa từng lìa nguyên thể và vô nhiễm, thân ngoại chưa từng lìa tôn nghiêm và hiền thiện.  Ở chỗ ác trược tối tăm mà vẫn nguyên thể và vô nhiễm, vẫn tôn nghiêm và hiền thiện là phẩm hạnh của đấng chúa thánh thần.    
Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết, tâm trung là chỗ vô chấp, vô cầu, vô sinh, vô diệt, bất đồng, bất dị.  Vòng ngoài là chỗ không thực tánh thực tướng, của chấp trước, của trùng trùng duyên khởi, của huyễn hóa, của vô minh, của sinh diệt, của biển nghiệp lực.   Tâm trung là thế giới của “diệu trạm tổng trì bất động tôn,”[16] là đại viên cảnh trí, là đương xứ tức chân, là tuyệt thánh khí trí, là bất động hiện quán, là bản lai diện mục, là sanditthiko, là akàliko, là opanayiko.  Vòng ngoài là thế giới “như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển,”[17] là “hoa đốm giữa hư không,”[18] là lý trí vọng thức, là chỗ “gate, gate, paragate, parasamgate,”[19]  là khổ đế và tập đế.  Tâm trung là nhà của như lai. Vòng ngoài là chỗ hiển bày vạn pháp.  Thường tịnh thường lặng ngay giữa chốn điên đảo quay cuồng là vì tâm nội chưa từng lìa nhà Như Lai, thân ngoại chưa từng lìa Pháp Giới; là vì vốn thấy rõ tất cả pháp đều huyễn hóa nên lìa tâm thức phân biệt chẳng thấy bốn tướng “nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả,” chẳng thương, chẳng ghét; là vì vốn thấy rõ mọi hiện tượng thế gian đều “không thêm, không bớt, không dơ, không sạch[20] nên chẳng lìa “bình đẳng tánh trí,” chẳng buông bỏ gì, chẳng nắm giữ gì, chẳng đến, chẳng đi; là vì vốn thấy rõ “thế gian như chiêm bao mà khởi lòng đại bi[21] nên chẳng lìa thực tại hiện tiền, trong huyễn cảnh hiện huyễn thân dụng huyễn pháp nương huyễn phương tiện cứu độ huyễn chúng sanh, tùy duyên bất biến.  Giữa thế gian mà không bị những cái khổ của thế gian trói buộc chính là tự tại của Bồ Tát.    
Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết, tâm trung là Đạo, vòng ngoài là Danh.  Danh là chỗ của có không.  Không là tên gọi lúc khởi đầu trời đất, là “vô, danh thiên địa chi thủy.”[22] Có là tên gọi lúc nảy sinh, là “hữu, danh vạn vật chi mẫu.”[23]  Thánh nhân lấy cái không để chiêm ngưỡng sự kỳ diệu, lấy cái có để xem xét sự tinh vi, “cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu, thường hữu dục dĩ quan kỳ hiếu.[24] Có không cùng hiện hữu.  Thánh nhân không thiên vị.  Theo đạo tự nhiên nên không cố làm, dạy đạo tự nhiên nên không cố nói, cùng một thể với đạo, “xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo.”[25]  Ở chỗ có không thánh nhân làm khe nước cho người khát, thành việc mà không kể công, thành công mà không ở lại, rỗng tâm, no lòng, mềm chí, cứng xương, khiến dân không dám tham, khiến kẻ trí không dám dùng thủ đoạn, thường hay cứu người nên không bị bỏ rơi, thường hay cứu vật nên không bị vứt đi. Thân tuy ở Danh nhưng tâm thì ở Đạo.  Lòng đạo vốn trống không nên dung chứa vô cùng.         
Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết, tâm trung là đất của tiên thiên, vòng ngoài là chỗ của hậu thiên.  Tiên thiên thì tịch tịnh như nhiên, bất sanh bất diệt, hậu thiên thì luôn luôn biến dịch và có cơ biến hóa hai chiều: chiều sanh và chiều tử;”[26] tâm trung là chỗ của “Thái Cực hiện nơi cung Vô Cực, là hoa khai kiến phật; Thái Cực có hiện nơi cung Vô Cực thì Vô Cực mới thành chí huyền chí diệu,” mới là “huyền chi hựu huyền.”[27]  Tâm nội là chỗ “dùng chơn thủy giúp cho hỏa minh linh,” là nơi “để đức cương kiện hiệp với đức nhu thuận,” là chân thổ để “mậu kỷ hiệp nhau biến thành đao khuê,” là điểm để “chân trí linh tri tương hiệp, chân tình chân tánh đồng khí, cương nhu phối nhau quay về trung chánh;”[28] hợp nội ngoại chi đạo để “kiến tố” để “phục mệnh[29] chính là chỗ dụng tâm của tiên gia.   

Giữa tâm trung với vòng bên ngoài của Việt Dịch Đồ, lý sự có thể tóm lại trong một chữ “hành.”  Nó hàm chứa sự thông dung và diệu dụng.  Nó hàm chứa sự tự nhiên và vô ngại.  Nó hàm chứa một thế giới nhị nguyên trong trạng thái tương tác hài hòa.  Đó chính là Dịch.  Hiểu và sống trong sự tương tác hài hòa đó chính là nền tảng của minh triết Đông Phương. 


 9. VÀI LỜI ĐỂ KHÉP LẠI
Đến đây, thay vì tóm tắt tất cả những điểm chính đã bàn luận và tự mình viết vài lời để kết thúc tác giả xin mạn phép được mượn một vài đoạn nguyên văn của hai học giả Việt Nam, Hà Văn Thùy và Nguyễn Vũ Tuấn Anh, để khép lại bài viết.  

“Trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người – trừ thuyết Âm dương Ngũ hành và siêu công thức của nó là Bát quái – loài người cũng đã có những cố gắng lập nên những siêu lý thuyết, kể cả những siêu lý thuyết giải thích sự hình thành vũ trụ cho đến mọi sự vận động liên quan đến con người nhân danh Thượng đế. Nhưng tất cả đều không thuyết phục được thời gian, mặc dù những lý thuyết vũ trụ quan đó đã chiếm một không gian lịch sử. Chỉ có thuyết Âm dương Ngũ hành và siêu công thức Bát quái là tồn tại có thể nói là lâu nhất trong lịch sử nhân loại. Những ý tưởng minh chứng trong cuốn sách này, cũng chỉ là những sự khởi nguyên cho việc phục hồi một siêu lý thuyết đã mất đi những nguyên lý bản căn, chỉ còn lại những phương pháp ứng dụng. Một khoảng trống còn rất lớn vẫn ngăn cách giữa những luận thuyết căn bản vẫn chưa hoàn chỉnh với những phương pháp luận của nó trên thức tế ứng dụng trải hàng thiên niên kỷ. Để lấp khoảng trống này, chắc chắn phải có một kiến thức tổng hợp vô cùng lớn và sự cố gắng hợp tác của nhiều ngành khoa học, Mặc dù, thuyết Âm dương Ngũ hành có thể là một học thuyết khoa học hay phi khoa học; nhưng chắc chắn sự phục hồi một học thuyết tồn tại lâu nhất trong lịch sử nhân loại với sự chứng nghiệm trên thực tế trải hàng ngàn năm, sẽ mang lại một lợi ích không nhỏ cho sự tiến bộ của con người. Sự phục hồi này chỉ có thể có được, nếu bắt đầu từ những di sản văn hóa truyền thống của người Lạc Việt, chủ nhân đích thực của những giá trị căn bản thuộc nền văn minh Đông phương.  Trải qua hơn hai thiên niên kỷ thăng trầm của lịch sử, thời Hùng Vương – một giai đoạn kỳ vĩ trong lịch sử Việt Nam – đã trở thành huyền sử. Nhưng may mắn thay, những di sản văn hóa mà tổ tiên truyền lại đã hướng con cháu tìm về cội nguồn.
Viết cuốn sách này, về phía khách quan có thể coi như một giả thuyết, nhưng người viết mong được chia sẻ với bạn đọc niềm hy vọng phục hồi lại lịch sử kỳ vĩ của đất nước Văn Lang – quốc gia đầu tiên của người Lạc Việt, tổ tiên của dân tộc Việt Nam hiện nay.” 
(Nguồn: Tìm về cội nguồn kinh Dịch, Nguyễn Vũ Tuấn Anh).
“Từ chứng minh ở trên, ta có thể tin được rằng, kinh Dịch nguyên là công cụ bói toán do người Bách Việt sống từ sông Hồng, sông Mã tới Dương Tử, Hoàng Hà sáng tạo. Khoảng 2800 TCN, Phục Hy đã từ những đồ hình Bát quái lưu hành trong dân gian, sáng tạo ra Tiên thiên Bát quái. Dựa vào cái la bàn này, Ngài đã sắp xếp một cách tương đối thỏa đáng các quẻ trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, trở thành sách bói toán hữu dụng. Văn Vương dựa vào những bát quái do dân gian phát hiện, đã sáng tạo nên Hậu thiên Bát quái rồi từ đây điều chỉnh vị trí các quẻ và sáng tác quái từ hào từ, đưa cuốn sách bói toán trở thành Chu Dịch. Bằng công trình san định của mình, Không Tử đã đưa Chu Dịch trở thành bộ kinh điển đứng hàng đầu trong kho tàng tri thức nhân loại.  Tuy nhiên tới nay cũng chưa thể nói kinh Dịch là tác phẩm hoàn chỉnh, không còn điều gì để bàn bạc sửa chữa. Đọc bộ Dịch do Chu Hy truyền lại, không thiếu những chỗ người đọc phải chấp nhận một cách khiên cưỡng là chỉ dấu cho thấy điều này. Dịch vốn là công cụ bói toán, vậy mà gần hai ngàn năm nay, những nhân tài xuất chúng về bói toán chỉ đếm không hết trên đầu ngón tay, cho thấy bản thân công cụ bói toán có vấn đề. Vấn đề ở đây là do người Trung Hoa chỉ có thể đạt tới Bát quái Văn Vương với 6 đối xứng. Từ Bát quái bất toàn này đã dẫn đến những thiếu sót nghiêng lệch trong việc sắp xếp các quẻ, khiến việc viết quái từ, hào từ, thập dực thiếu chính xác. . . . 
Vì vậy nên chăng, người Việt Nam nên dựa vào Bát quái Lạc Việt làm ra cuốn Dịch Việt Nam để phục vụ tốt hơn cho nhân dân, đất nước mình?
. . .
Cần đưa Dịch thành môn học trong trường phổ thông để công dân tương lai không bị mù dịch, ngu ngơ trước quy luật vận hành của Vũ trụ, đứng ngoài thành tựu văn hóa của tổ tiên.”  (Nguồn: Bàn Lại Lịch Sử Hình Thành Kinh Dịch, Hà Văn Thùy).

Xin chân thành cảm ơn quý vị học giả và tất cả đọc giả.



[1] Hán Văn trích từ Hệ Từ Truyện, Chương 1 của Kinh Dịch
[2] Hán Văn trích từ Hệ Từ Truyện, Chương 1 của Kinh Dịch
[3] Hán văn trích từ Hệ Từ Truyện, Chương 1 của Kinh Dịch
[4] Đạo Đức Kinh, Hư Dụng, Lão Tử
[5] Đạo Đức Kinh, Nhiệm Đức, Lão Tử
[6] Đạo Đức Kinh, Vi Chính, Lão Tử
[7] Đạo Đức Kinh, Thuần Phong, Lão Tử
[8] Đạo Đức Kinh, Thuần Phong, Lão Tử
[9] Đạo Đức Kinh, Thuần Phong, Lão Tử
[10] Đạo Dức Kinh, Hậu Kỷ, Lão Tử.
[11] Đạo Đức Kinh, Lập Giới, Lão Tử
[12] Đạo Đức Kinh, Hồng Đức, Lão Tử
[13] Đạo Đức Kinh, Giám Viễn, Lão Tử
[14] Đạo Đức Kinh, Quy Căn, Lão Tử
[15] Thơ của Hà Hưng Quốc
[16] Kinh Thủ Lăng Nghiêm
[17] Kinh Kim Cang
[18] Kinh Hoa Nghiêm
[19] Kinh Bát Nhã Tâm
[20] Kinh Bát Nhã Tâm
[21] Kinh Lăng Già
[22] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão Tử
[23] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão Tử
[24] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão T ử
[25] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão T ử
[26] Dịch Lý Khai Nguyên của Đức Đông Phương Lão Tổ, thánh giáo Cao Đài.
[27] Đức Lão Tử
[28] Trích thánh giáo Cao Đài.
[29] Đức Lão Tử