Showing posts with label Ngũ Hành. Show all posts
Showing posts with label Ngũ Hành. Show all posts

Tuesday, October 20, 2015

BÍ KIẾP DỰ ĐOÁN VẬN HẠN ĐỜI NGƯỜI

Hà Hưng Quốc

Trong bài này bạn sẽ được hướng dẫn để thành lập một bảng ma trận dùng để dự đoán vận hạn một đời người.  Bảng dự đoán này không cho bạn nhiều chi tiết như một lá số Tử Vi nhưng ngược lại rất dứt khoát, có xác suất rất cao, để giúp người coi làm những quyết định quan trọng nằm gọn trong hai chữ TIẾN/THỦ.

Thật ra thì phương pháp dự đoán vận hạn này là một phần trong phương pháp dự đoán vận hạn một lá số TỬ VI. Bạn có thể chỉ cần bấy nhiêu đây thôi là đã đủ xài. Hoặc, nếu thích, bạn có thể mở rộng để có thêm chi tiết.  Và tôi sẽ làm điều đó trong những bài tới.

Nhân đây cũng xin được tiết lộ với bạn là tất cả những bài viết trong blog này được cố tình "thiết kế" để từng bước "xây móng, đấp nền" cho những ai muốn nghiên cứu Tử Vi.  Mỗi bài viết là một module có giá trị độc lập nhưng đồng thời cũng là một phần trong hệ thống.  Đến cuối chặn đường, tất cả sẽ ráp lại với nhau.  Tới lúc đó, mọi người sẽ nhận ra là mình đã có được một nền móng vững chắc để có thể thực sự "nghiên cứu Tử Vi" một cách có trình độ và khoa học.

Nói tóm lại, chúng ta sẽ tiếp cận môn Tử Vi bằng một phương pháp khác hơn phương pháp mà những vị tiền bối đã sử dụng để truyền dạy từ trước đến nay.  Chúng ta "nghiên cứu Tử Vi" chứ không theo "tôn giáo Tử Vi".  Trong tiến trình chúng ta sẽ sàng lọc để chỉ giữ lại những gì có giá trị. Nói cách khác, trong tiến trình nghiên cứu, chúng ta sẽ phải biết loại bỏ những "sai lầm, phi lý, hí luận, huyễn hoặc, mù quáng, mê tín" nhìn thấy trong mô hình, lý thuyết,  phương pháp, hoặc luận giải . . . nhìn thấy nhan nhản trong thế giới lý học đông phương.

Trong tiến trình thành lập ma trận vận hạn, bạn có thể sử dụng 12 cung trên bàn tay hoặc trên giấy. Chính xác là 12 cung thiên bàn Tử Vi.  Nếu bạn chưa quen thuộc thì xem bài Thiên Can, Địa Chi, Ngũ Hành Phối 12 Cung Trên Thiên Bàn Tử Vi Và Trên Bàn Tay cũng trên blog này. 

Nhằm giản hóa, chúng ta sẽ chỉ dùng chữ "bấm" tay đại diện cho cả hai trường hợp dùng bàn tay hoặc dùng giấy.


1. LẬP HÀNH, CỤC, A/D CỦA BẢN MỆNH
Trước tiên ghi xuống giấy thông tin cá nhân: giờ, ngày, tháng, năm sinh dương hoặc/và âm lịch.


Rồi từ những thông tin đó bạn sẽ tìm:
a. Hành & Âm Dương của bản mệnh 
b. Cung an Mệnh
c. Cục của bản mệnh

Giả dụ bạn lập bảng ma trận vận hạn cho một người, ông NVA sinh ngày xx tháng 7 năm 1954 vào lúc 6:30 chiều.  Từ dương lịch chuyển sang âm lịch thì ông NVA sinh ngày xx tháng 6 năm Giáp Ngọ vào giờ Dậu.

a. Tra bảng Lục Thập Hoa Giáp, cột ngũ hành nạp âm hoặc cột niên mệnh, sẽ thấy năm Giáp Ngọ có ngũ hành nạp âm là hành Kim và niên mệnh là Sa Trung Kim.  Như vậy, hành bản mệnh của ông NVA là hành Kim và là Dương Nam.

b. Trên bàn tay trái, từ cung Dần tính là tháng 1, bạn bấm theo chiều kim đồng hồ đến tháng sinh là tháng 6, rớt vào cung Mùi.  Tại cung Mùi này tính là giờ Tí bấm ngược chiều kim đồng hồ tới giờ sinh là giờ Dậu, rớt vào cung Tuất.  Đây là cung an Mệnh của bạn trên thiên bàn Tử Vi.

c. Dùng Ngũ Hổ Độn để tìm Can cho tháng Tuất của năm Giáp thì bạn sẽ được kết quả là Giáp Tuất. Phương pháp Ngũ Hổ Độn đã được trình bày trên blog này.

Tra bảng Lục Thập Hoa Giáp bạn sẽ thấy ngũ hành nạp âm của Giáp Tuất là hành Hỏa (Sơn Đầu Hỏa).  Như vậy, Cục của Giáp Tuất là Hỏa 6.

Ghi Chú:  
(1) Bạn có thể bỏ qua những thao tác trên bằng cách sử dụng một phần mềm lấy lá số Tử Vi rồi từ lá số lấy ra thông tin cần thiết.

(2) Bạn nên biết rõ là tất cả các danh sư Tử Vi trong quá khứ cho tới nay đều cho là Thủy 2 Cục (Thủy Nhị Cục) và Hỏa 6 Cục (Hỏa Lục Cục).  Nhưng riêng tôi, dựa vào kết quả nghiên cứu cả mặt lý thuyết lẫn thực chứng, tin rằng chúng ta cần phải chỉnh lại cho đúng là Hỏa 2 Cục và Thủy 6 Cục.  Xem Giải Mã Bí Ẩn Tử ViGiải Mã Bí Ẩn Lục Thập Hoa Giáp. Và vì vậy, từ đây cho tới cuối bài, tôi sẽ dùng Hỏa 2 Cục.  Tùy bạn chọn, phương pháp vẫn không thay đổi. Tốt nhất là bạn nên thử cả hai để đối chiếu kết quả.  Cảm ơn trước nếu bạn có thể chia sẽ những điều bạn thực nghiệm được.


Chốt lại:
Ông NVA 
Sinh xx/7/1954, 6:30p.m.
tức xx/6/Giáp Ngọ, giờ Dậu
Mệnh: Kim - dương nam
Cung An Mệnh: Tuất
Cục: Hỏa 6 Hỏa 2


2. LẬP VẬN HẠN 10 NĂM  
Vận hạn 10 năm được thiết lập với ba yếu tố thuộc về bản mệnh:

Một cách tổng quát: 
a. Với cục Hỏa 2 thì vận hạn 10 năm đầu tiên là 2-11 tuổi, cục Mộc 3 thì vận hạn 10 năm đầu tiên là 3-12 tuổi, cục Kim 4 thì vận hạn 10 năm đầu tiên là 4-13 tuổi, cục Thổ 5 thì vận hạn 10 năm đầu tiên là 5-14 tuổi, cục Thủy 6 thì vận hạn 10 năm đầu tiên là 6-15 tuổi.

b. Nạp vận hạn 10 năm đầu tiên vào cung an mệnh. Sau đó lần lượt nạp vào cung kế 10 năm tiếp theo . 

c. Nạp theo chiều kim đồng hồ cho dương nam hoặc âm nữ.  Nạp ngược chiều kim đồng hồ cho âm nam hoặc dương nữ.

Trở lại với giả dụ ông NVA: 
- Vì là dương nam nên sẽ nạp theo chiều kim đồng hồ.
- Cục là Hỏa 2 nên vận 10 năm sẽ là 2-11, 12-21, 22-31, 32-41, 42-51, 52-61...
- Mệnh an tại cung Tuất cho nên vận 2-11 sẽ nằm tại cung Tuất.

Nạp vận hạn 10 năm vào 12 cung. Chúng ta sẽ có được kết như sau:  
Vận 2-11: cung Tuất
Vận 12-21: cung Hợi
Vận 22-31 cung Tí
Vận 32-41: cung Sửu
Vận 42-51: cung Dần
Vận 52-61: cung Mẹo 
. . .

3. XÁC ĐỊNH TAM HỢP CỤC CỦA VẬN HẠN 10 NĂM
Căn bản có 4 Tam Hợp Cục: 
- Thân-Tí-Thìn Thủy Cục;
- Dần-Ngọ-Tuất Hỏa Cục; 
- Hợi-Mẹo-Mùi Mộc Cục; và 
- Tỵ-Dậu-Sửu Kim Cục.

Tùy vào vận hạn 10 năm nằm ở cung nào mà xác định tam hợp cục. Nếu nằm tại  cung Thân, hoặc cung Tí, hoặc cung Thìn thì cung đó thuộc Tam Hợp Thủy Cục.  Nếu nằm tại  cung Dần, hoặc cung Ngọ, hoặc cung Tuất thì cung đó thuộc Tam Hợp Hỏa Cục. ...  

Trở lại với giả dụ ông NVA:
Vận hạn 10 năm đã  được thiết lập.  Từ đó tam hợp cục của cung an vận hạn 10 năm được xác định như sau:  
Vận 2-11: cung Tuất: Tam Hợp Hỏa Cục
Vận 12-21: cung Hợi: Tam Hợp Mộc Cục
Vận 22-31 cung Tí: Tam Hợp Thủy Cục
Vận 32-41: cung Sửu: Tam Hợp Kim Cục
Vận 42-51: cung Dần: Tam Hợp Hỏa Cục
Vận 52-61: cung Mẹo: Tam Hợp Mộc Cục 
. . . 

4. LẬP VẬN HẠN 1 NĂM
Tùy thuộc vào vận hạn 10 năm nằm vào cung nào mà vận hạn 1 năm được định vị. 

Một cách tổng quát:  
a. Từ cung an vận 10 năm, tạm gọi là cung X, nạp năm dương lịch của đầu vận hạn đó vào cung X, tạm gọi là năm "N" .

b. Kế tiếp, nạp năm N+1 vào cung đối diện cung X.

c. Tại ví trí đối diện cung X đó, lùi lại một cung nạp năm N+2.

d. Sau đó tiến lên một cung nạp N+3.

e. Tiến lên cung kế tiếp, nạp N+4 và tiếp tục như thế cho đến hết một vòng (tức là tới năm cuối  của vận hạn 10 năm).   

f. Lập lại từ bước a tới bước e cho vận hạn 10 năm kế tiếp.

Trở lại với giả dụ ông NVA: 
Vận 2-11 nằm tại cung Tuất.  Năm đầu tiên của vận 2-11 tuổi là năm Thân 1956 (sinh năm Ngọ 1954 + 2 tuổi = năm Thân 1956). Sau khi nạp xong vận hạn từng năm vào 12 cung kết quả cho thấy như sau:
- năm Thân 1956: cung Tuất (cùng cung vận 2-11)
- năm Dậu 1957: cung Thìn (đối diện cung Tuất)
- năm Tuất 1958: cung Mẹo (lùi 1 cung)
- năm Hợi 1959: cung Thìn (tiến 1 cung)
- năm Tí 1960: cung Tỵ (tiến 1 cung)
- năm Sửu 1961: cung Ngọ (tiến 1 cung)
- năm Dần 1962: cung Mùi (tiến 1 cung)
- năm Mẹo 1963: cung Thân (tiến 1 cung)
- năm Thìn 1964: cung Dậu (tiến 1 cung)
- năm Tỵ 1965: cung Tuất.
  
Vận 12-21 nằm tại cung Hợi. Năm đầu tiên của vận 12-21 tuổi là năm Ngọ 1966. Sau khi nạp xong vận hạn từng năm vào 12 cung kết quả sẽ như sau:
- năm Ngọ 1966: cung Hợi (cùng cung vận 12-21)
- năm Mùi 1967: cung Tỵ (đối diện cung Hợi)
- năm Thân 1968: cung Thìn (lùi 1 cung)
- năm Dậu 1969: cung Tỵ (tiến 1 cung)
- năm Tuất 1970: cung Ngọ (tiến 1 cung)
- năm Hợi 1971: cung Mùi (tiến 1 cung)
- năm Tí 1972: cung Thân (tiến 1 cung)
- năm Sửu 1973: cung Dậu (tiến 1 cung)
- năm Dần 1974: cung Tuất (tiến 1 cung)
- năm Mẹo 1975: cung Hợi.

Vận 22-31 nằm tại cung Tí. Năm đầu tiên của vận 22-31 tuổi là năm Thìn 1976. Sau khi nạp xong vận hạn từng năm vào 12 cung kết quả sẽ như sau:
- năm Thìn 1976: cung Tí (cùng cung vận 22-31)
- năm Tỵ 1977: cung Ngọ (đối diện cungTí)
- năm Ngọ 1978: cung Tỵ (lùi 1 cung)
- năm Mùi 1979: cung Ngọ (tiến 1 cung)
- năm Thân 1980: cung Mùi (tiến 1 cung)
- năm Dậu 1981: cung Thân (tiến 1 cung)
- năm Tuất 1982: cung Dậu (tiến 1 cung)
- năm Hợi 1983: cung Tuất (tiến 1 cung)
- năm Tí 1984: cung Hợi (tiến 1 cung)
- năm Sửu 1985: cung Tí (dừng lại).
. . .

Tiếp tục như vậy cho đến hết các vận hạn 10 năm.


5. XÁC ĐỊNH TAM HỢP CỤC CỦA VẬN HẠN 1 NĂM
Như đã trình bày qua, căn bản chỉ có 4 Tam Hợp Cục: 
- Thân-Tí-Thìn Thủy Cục;
- Dần-Ngọ-Tuất Hỏa Cục; 
- Hợi-Mẹo-Mùi Mộc Cục; và 
- Tỵ-Dậu-Sửu Kim Cục.

Tùy vào vận hạn của năm nằm ở cung nào mà xác định tam hợp cục. Nếu nằm tại  cung Thân hoặc cung Tí hoặc cung Thìn thì cung đó thuộc Tam Hợp Thủy Cục. Nằm tại cung Tỵ hoặc cung Dậu hoặc cung Sửu thì cung đó thuộc Tam Hợp Kim Cục. . . .

Trở lại với trường hợp của ông NVA, cung an vận hạn một năm đã được định vị trong bước thứ 4 vừa qua.  Xác định Tam Hợp Cục của từng năm sẽ cho kết quả như sau:
- năm Thân 1956: cung Tuất: Tam Hợp Hỏa Cục
- năm Dậu 1957: cung Thìn: Tam Hợp Thủy Cục
- năm Tuất 1958: cung Mẹo: Tam Hợp Mộc Cục
- năm Hợi 1959: cung Thìn: Tam Hợp Thủy Cục
- năm Tí 1960: cung Tỵ: Tam Hợp Kim Cục
- năm Sửu 1961: cung Ngọ: Tam Hợp Hỏa Cục
- năm Dần 1962: cung Mùi: Tam Hợp Mộc Cục
- năm Mẹo 1963: cung Thân: Tam Hợp Thủy Cục
- năm Thìn 1964: cung Dậu: Tam Hợp Kim Cục
- năm Tỵ 1965: cung Tuất: Tam Hợp Hỏa Cục
  . . .

6. XÁC ĐỊNH TAM HỢP CỤC CỦA ĐỊA CHI NĂM
Như đã trình bày qua, căn bản chỉ có 4 Tam Hợp Cục.  Tùy thuộc vào Địa chi của năm mà chúng ta xác định Tam Hợp Cục của năm. Nếu địa chi của năm là Thân, Tí, hoặc Thìn thì Tam Hợp Cục của năm đó là Thủy Cục. Nếu địa chi của năm là Dần, Ngọ, hoặc Tuất thì Tam Hợp Cục của năm đó là Hỏa Cục. Nếu địa chi của năm là Hợi, Mẹo, hoặc Mùi thì Tam Hợp Cục của năm đó là Mộc Cục. Và nếu địa chi của năm là Tỵ, Dậu, hoặc Sửu thì Tam Hợp Cục của năm đó là Kim Cục.


7.  LẬP BẢNG MA TRẬN VẬN HẠN 
Thành lập một ma trận vận hạn thực ra rất đơn giản. Ma trận này chỉ là một cấu trúc kết hợp chu kỳ 12 năm AL (cột dọc) với các vận 10 năm (hàng ngang). Mỗi năm dương lịch trong suốt cuộc đời đương số sẽ được an vị tại giao điểm của một vận 10 năm (hàng ngang) và một năm âm lịch tương ứng với năm dương lịch đó (cột dọc).  



Trở lại với giả dụ ông NVA, sinh năm Giáp Ngọ 1954, vận hạn 10 năm đầu tiên là 2-11 và vận hạn 1 năm đầu tiên là năm Thân 1956: 

-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Thân, ghi vào năm 1956. 
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Dậu, ghi vào năm 1957. 
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Tuất, ghi vào năm 1958. 
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Hợi, ghi vào năm 1959.
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Tí, ghi vào năm 1960.
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Sửu, ghi vào năm 1961.
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Dần, ghi vào năm 1962.
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Mẹo, ghi vào năm 1963.
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Thìn, ghi vào năm 1964.
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Tỵ, ghi vào năm 1965.
-Tại giao điểm của Vận 2-11và năm Ngọ, đánh dấu X.  
-Tại giao điểm của Vận 2-11 và năm Mùi, đánh dấu X.

Đánh dấu X vào hai vị trí trên vì mỗi vận chỉ có 10 năm nên dư ra hai năm. Năm 1966 và 1967 đã thuộc về vận hạn 10 năm kế.  Sau khi xong Vận 2-11 thì tiếp tục tới Vận 12-21.

Vận hạn 10 năm kế của ông NVA là Vận 12-21 và vận hạn 1 năm đầu tiên của Vận 12-21 là năm Ngọ 1966: 
-Tại giao điểm của Vận 12-21 và năm Ngọ, ghi vào năm 1966.
-Tại giao điểm của Vận 12-21 và năm Mùi, ghi vào năm 1967. 
.  . . 

-Tại giao điểm của Vận 12-21 và năm Mẹo, ghi vào năm 1975. 
-Tại giao điểm của Vận 12-21 và năm Thìn, đánh dấu X.
-Tại giao điểm của Vận 12-21 và năm Tỵ, đánh dấu X. 
. . .

Tiếp tục triển khai cho đến hết bảng ma trận.  Kết quả cho thấy như trong hình H10A.


8. NẠP TAM HỢP CỤC CỦA VẬN HẠN 10 NĂM, VẬN HẠN 1 NĂM, VÀ CỦA ĐỊA CHI NĂM VÀO MA TRẬN
Sau khi đã có được bảng ma trận, bây giờ chúng ta sẽ đưa biểu tượng của ngũ hành của các Tam Hợp Cục đã xác định trong các bước vừa qua vào bảng ma trận.   

Bạn có thể dùng một ký hiệu hoặc ký tự hoặc màu sắc nào đó để tượng trưng cho ngũ hành của mỗi cục.  Ở đây chúng ta sẽ chọn ký hiệu giọt nước cho Tam Hợp Thủy Cục, ngọn lửa cho Tam Hợp Hỏa Cục, cái cây cho Tam Hợp Mộc Cục, và đá quặng kim loại cho Tam Hợp Kim Cục.  

Trở lại trường hợp ông NVA, với kết quả đã có được từ bước thứ 3 đến bước thứ 7, bạn sẽ đặt các biểu tượng tương ứng cho từng vận hạn 10 năm, 1 năm và chu kỳ 12 năm.  Sau khi hoàn tất kết quả sẽ giống như hình H10B. 




9. GIẢI ĐOÁN VỚI BẢNG MA TRẬN VẬN HẠN

Như vậy là bạn đã được hướng dẫn và đã thành lập xong một "ma trận ngũ hành" tạm đặt tên là bảng Ma Trận Vận Hạn như cho thấy trong hình H10B. Từ những thông tin chứa trong ma trận ngũ hành này bạn có thể dự đoán vận hạn của một đời người. 

Trong tiến trình thành lập bảng Ma Trận Vận Hạn, từ đầu đến cuối hầu như bạn đều chạm đến ngũ hành. Nếu bạn tinh ý thì sẽ nhận ra tuy cùng mang danh là ngũ hành nhưng bản chất khác nhau tùy trường hợp.
 
Ngũ hành của bản mệnh/bổn mạng, gọi ngắn là Mệnh, trong bảng Lục Thập Hoa Giáp ghi là Niên Mệnh, là Ngũ Hành Nạp Âm của Năm sinh.  Nó hình thành từ sự kết hợp của Thiên Can với Địa Chi của năm sinh và nạp âm ngũ hành vào 60 Can Chi.  

Theo quan điểm của cổ thánh, mạng con người là do thọ bẩm hành khí của đất trời và khí huyết của cha mẹ mà kết tinh. Tính chất và tính cách của một người đã được "ký thác" vào cái gọi là Mệnh.  Nó là DNA mệnh lý, là số phận tiềm ẩn.  Nếu khí huyết hậu thiên của cha mẹ cho con người DNA sinh học thì tiên thiên chi khí của trời đất cũng cho con người DNA mệnh lý. Mệnh là yếu tố tỉnh, lặng, bám sát và xuyên suốt một đời người.

Ngũ hành của Cục của bản mệnh, gọi ngắn là Cục, là ngũ hành nạp âm của cung an Mệnh, độn tháng của cung an Mệnh theo Can năm sinh.  

Và như tên gọi, Cục của bản mệnh là cuộc diện của bản mệnh. 

Cục và Mệnh đều là ngũ hành nạp âm và đều liên đới với bản mệnh.  Nhưng, Cục là môi trường mà Mệnh sẽ vận hành trong đó. Cục là dòng chảy mà Mệnh sẽ phải "bơi" trong đó. 

Dùng ngôn ngữ gần với Phật môn hơn thì Cục là biển "duyên khởi" mà "tính chất và tính cách" đã "ký thác" vào Mệnh của đương số khi tiếp xúc với biển duyên khởi này sẽ bị/được tác động tạo thành nghiệp lực dẫn dắt suy nghĩ và khuynh hướng hành động của đương số. Và kết quả tất yếu của những suy nghĩ và hành động đó tạo nên số phận của đương số. 

Nếu Mệnh là "số phận tiềm ẩn" thì Cục tác động vào số phận tiềm ẩn biến nó thành số phận thể hiện. 

Dựa vào tương sinh hay tương khắc giữa ngũ hành của Mệnh và ngũ hành của Cục có thể giúp chúng ta  phát họa số phận tổng quát của một đời người nằm gọn trong hai chữ PHÚC/HỌA. Dầu phúc hay là họa thì một sự thật luôn tồn tại trong cuộc sống là trong phúc có ẩn họa và trong họa có ẩn phúc. Phúc hay họa chỉ là sự so sánh tương đối.

Cuối cùng là ngũ hành của Tam Hợp Cục.  Ngũ hành của một tam hợp cục là ngũ hành thuần túy (tức là không nạp âm) của một cấu trúc tam hợp được hình thành bởi ba địa chi hợp nhau theo qui luật ngũ hành tương sinh.
   
Tam hợp cục là cuộc diện của một tam hợp. Và tam hợp cục là một yếu tố động.  Nó thay đổi theo năm, theo vận, theo nhân sự, theo vấn đề.

Như vậy Cục của bản mệnh là cuộc diện trọn đời và những tam hợp cục của vận hạn 10 năm là một chuỗi cuộc diện góp phần tạo nên cuộc diện trọn đời đó, tác động lên bản mệnh suốt thời gian trong vận hạn đó.  Và những tam hợp cục của vận hạn 1 năm cùng với những tam hợp cục của năm là một chuỗi cuộc diện góp phần tạo nên cuộc diện của vận hạn 10 năm, tác động lên bản mệnh suối thời gian trong năm đó. 

Với những thông tin chứa đựng trong bảng Ma Trận Vận Hạn và với những nguyên tắc đơn giản, công việc giải đoán của bạn sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều. 

Nguyên tắc thứ nhất dựa vào vào ngũ hành sinh khắc. So sánh ngũ hành của bản mệnh (số phận tiềm ẩn) với ngũ hành của Cục hoặc của vận hạn hoặc của năm (những cuộc diện):
- Nếu tương khắc là xấu.  
- Nếu tương đồng là tốt. 
- Nếu tương sinh là có lợi. 

Riêng về tương sinh: 
- Hành của vận (tức là hành của cuộc diện) sinh hành của bản mệnh thuận chiều kim đồng hồ là có lợi thiên về mặt vật chất. 
- Hành của vận sinh bản mệnh chiều ngược kim đồng hồ là có lợi thiên về mặt tinh thần. 

Nguyên tắc thứ hai dựa vào xác suất. Mức độ cao thấp của xác suất thùy thuộc vào sự hội tụ tính chất của ngũ hành. Nếu cuộc diện của vận hạn 10 năm, của vận hạn 1 năm và của năm (niên lịch) hội tụ cùng một tính chất sẽ cho xác xuất cao nhất (hội tụ 3 trên 3). Nếu chỉ hai trong số đó hội tụ cùng một tính chất sẽ cho xác suất cao (hội tụ 2 trên 3). Nếu chỉ một trong số đó cũng sẽ cho xác suất khá cao (chỉ 1 trên 3)

VẬN HẠN XẤU 
Trở lại với bảng Ma Trận Vận Hạn H10B, nhìn vào cột vận hạn 10 năm, chúng ta có thể giải đoán là vận hạn 12-21 tuổi và vận hạn 52-61 tuổi là hai vận hạn xấu của ông NVA trong 60 năm. Lý do: vì hành Mộc của vận hạn khắc với hành Kim của bản mệnh. 

Ghi Chú:
Cũng nên nhắc lại lý thuyết Ngũ Hành được vận dụng trong những bài viết ở blog này là lý thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy (của Việt) khác với lý thuyết Ngũ Hành Phổ Cập (của Tàu).  Sự khác biệt được tóm gọn trong hình H45.
  

 

Phối kiểm sự thật đã xác nhận là cuộc đời của ông NVA đã trải qua hai giai đoạn xấu nhiều khốn đốn đúng như giải đoán.       

Nhìn sâu vào vận hạn 12-21 tuổi, bạn có thể giải đoán là những biến cố lớn có thể sẽ xảy ra cho đương số vào năm 1971 và 1975 vì hai năm này có xác suất cao nhất.  Có xác suất cao nhất do vận hạn 10 năm cộng vận hạn 1 năm cộng thời điểm năm Mẹo đều là hành Mộc tương khắc với hành Kim của bản mệnh (hội tụ 3 trên 3 khắc bản mệnh).  

Cũng trong vận hạn 10 năm này, những năm có xác suất cao là vào năm 1966 và 1967.  Lý do là  hành Mộc của vận hạn 10 năm cộng hành Mộc của vận hạn 1 năm khắc với hành Kim của bản mệnh trong năm 1966 (hội tụ 2 trên 3 khắc bản mệnh) và hành Mộc của vận hạn 10 năm cộng hành Mộc của thời điểm năm Mùi khắc với hành Kim của bản mệnh trong năm 1967 (hội tụ 2 trên 3 khắc bản mệnh).

Nhìn sâu vào vận 52-61 tuổi, bạn có thể giải đoán là những biến cố lớn có thể sẽ xảy ra cho đương số vào năm 2011 và 2016 vì hai năm này có xác suất cao nhấtCó xác suất cao nhất do vận hạn 10 năm cộng vận hạn 1 năm cộng năm Mẹo đều là hành Mộc khắc với hành Kim của bản mệnh (hội tụ 3 trên 3 khắc bản mệnh). 

Những năm có xác suất cao là 2006 và 2007. Lý do là hành Mộc của vận hạn 10 năm cộng hành Mộc của vận hạn 1 năm khắc với hành Kim của bản mệnh trong năm 2006 (hội tụ 2 trên 3 khắc bản mệnh) và hành Mộc của vận hạn 10 năm cộng hành Mộc của năm Hợi khắc với hành Kim của bản mệnh trong năm 2007 (hội tụ 2 trên 3 khắc bản mệnh).

Phối kiểm sự thật đã xác nhận là ông NVA đã khốn đốn nhất vào đúng những năm này. 

Có thể nói trong giai đoạn mà hành của vận 10 năm khắc với hành của bản mệnh thì coi như đương số sẽ khốn đốn. Net Result sau mười năm của cuộc đời sẽ là con số âm tổ bố. 

Không chỉ có vậy, những năm mà thấy có hành của  vận hoặc của năm khắc với hành của bản mệnh thì hầu như là sẽ có chuyện không may xảy ra, dầu vận 10 năm có tốt.

Phối kiểm cuộc đời của ông NVA (không dựa vào trí nhớ của đương sự mà căn cứ vào văn bản, văn bằng, và nhật ký), dự đoán đã chính xác tới 99%.

Chốt lại, vận hạn 10 năm có hành khắc với hành của bản mệnh làm cho đương số khốn đốn về mọi mặt (sự nghiệp, tiền bạc, sức khỏe . . .).  NET RESULT của 10 năm đó sẽ là con số trừ to tổ bố. Có lẽ nên dậm chân một chỗ, dè dặt trong mọi dự tính, kiên nhẫn chờ đợi cho qua vận hạn xấu là cách tốt nhất.  Càng cựa quậy càng bị xiết.  Càng đánh lớn càng thua nặng.  Đặc biệt là trong những năm có tiểu hạn (vận 1 năm) xấu hoặc thời điểm (năm) xấu thì phải hết sức dè dặt và nên phòng bị cẩn thận.


VẬN HẠN TỐT
Trở lại bảng Ma Trận Vận Hạn H10B, chúng ta thấy vận 22-31 tuổi có hành Thủy tương sinh với hành Kim của bản mệnh. Và trong trường hợp này thì cuộc diện sinh bản mệnh theo chiều ngược kim đồng hồ cho nên chúng ta có thể nói đặc tính của giai đoạn này sẽ là thiên về sự thăng tiến tinh thần. Có lẽ đương sự chú trọng nhiều vào việc học, hoặc chú trọng vào những hoạt động tinh thần, hoặc cố phát huy giá trị tinh thần, hoặc nhận được sự trợ giúp về mặt tinh thần từ ai đó và sự trợ giúp này có ảnh hưởng lớn đối với đương sự.

Phối kiểm lại cuộc đời của ông NVA thì giai đoạn này quả thật là ông đã có nhiều cố gắng và khá thành tựu về mặt học vấn (đối với một người tị nạn chân ướt chân ráo trên đất lạ không người quen), được sự trợ giúp tinh thần nhiệt tình của các thầy cô giáo Mỹ, và cũng được vinh danh khá nhiều ở trường học và địa phương.  Điều lý thú là cả trường học lẫn nơi cư trú của ông NVA lúc đó đều nằm cạnh một bờ biển đẹp (Thủy) ở mạn Đông Hoa Kỳ.

Nhìn vào vận 32-41 tuổi chúng ta thấy hành Kim của vận 10 năm này đồng với hành Kim của bản mệnh. Chúng ta có thể nói đặc tính của giai đoạn này là sự thăng tiến  cho cả hai mặt vật chất và tinh thần. Đương sự sẽ giàu có hơn về mặt vật chất. Đồng thời cũng danh giá hơn.   

Phối kiểm lại cuộc đời của ông NVA thì quả thật trong vận hạn này đương sự đã đạt được những thành quả nhất định trong sự nghiệp và học vấn. Ông đã ngẫu nhiên bước vào ngành nghề mới và liên tục thăng tiến do tài lãnh đạo và khả năng quản trị đạt tới những vị trí cao trong công ty và có uy tín lớn đối với các công ty đối tác, với hiệp hội những nhà quản lý, với hiệp hội những doanh nghiệp, với chính quyền, và với các trường trung học và đại học tại địa phương. Song song với sự nghiệp, ông cũng đã trở lại trường theo học ngành quản trị kinh doanh và đã tốt nghiệp BSBM và MBA trong giai đoạn này.  
  Nhìn vào vận 42-51 tuổi, chúng ta thấy vận 10 năm này có hành Hỏa tương sinh với hành Thủy của bản mệnh. Vâng, là tương sinh với bản mệnh, căn cứ theo lý thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy (xem mô hình H45 ở trên). Và trong trường hợp này thì cuộc diện sinh bản mệnh theo chiều kim đồng hồ cho nên chúng ta có thể nói đặc tính rõ nét nhất trong giai đoạn này là sự thăng tiến về mặt vật chất. Có lẽ đương sự chú trọng vào sự nghiệp hoặc công việc làm ăn.

Phối kiểm cuộc đời của ông NVA cho thấy đây là giai đoạn thịnh nhất, đạt tới đỉnh cao nhất của sự nghiệp, có danh tiếng và được trọng vọng nhất. Trong giai đoạn này ông cũng đã hoàn tất học vị cao nhất.  Ai bảo Hỏa khắc Kim?  Điều thú vị là một nửa sau của vận này thì tự thân ông đã lìa bỏ tất cả để đi vào một lộ trình khác: lộ trình tâm linh.


Chốt lại, vận hạn 10 năm có hành tương đồng hoặc tương sinh với hành của bản mệnh sẽ là giai đoạn tốt cho đương số về mọi mặt (sự nghiệp, tiền bạc, sức khỏe, học vấn . . .). Dầu là trong 10 năm đó có thắng có bại đi nữa thì NET RESULT của 10 năm đó vẫn là con số cộng to tổ bố.  Cho nên, đương số nên tận dụng cơ hội để tranh thủ.  Có một điều nên lưu ý là mặc dù vận 10 năm có tốt nhưng nếu hành của tiểu hạn hoặc của năm tương khắc với hành bản mệnh thì cũng phải đặc biệt cẩn thận.  Xác suất tuy không là cao nhất nhưng vẫn là cao và cao hơn (1/3 tới 2/3 khắc bản mệnh).  Nếu có thể thì tốt hơn là nên duy trì hoặc thoái một bước chờ cho tiểu hạn rồi đánh tiếp.  Phối kiểm cuộc đời của ông NVA cho thấy dự đoán chính xác tới 99%. 

Trở lại với vấn đề Mệnh và Cục. Trường hợp của ông NVA thì hành Hỏa của Cục tương sinh với hành Kim của Mệnh. Chúng ta có thể dự đoán đây là một số phận nhiều Phúc mà ít Họa. Kiểm chứng thật tế cho thấy dự đoán này rất đúng với cuộc đời của ông NVA. Dầu có lúc khốn khó chật vật, có lúc nguy nan, có lúc đắng cay, nhưng tựu chung vẫn là một cuộc đời quí hiển và được hưỡng nhiều phước lộc.  Những chi tiết xuyên qua các vận hạn đã trình bày ở trên hổ trợ cho kết luận này.  

Như vậy, ai dám nói Hỏa khắc Kim? Tôi đã chọn trường hợp ông NVA để đưa ra làm thí dụ điển hình và đồng thời cũng để dẫn chứng cho thấy "Hỏa tương sinh với Kim" là đúng và mô hình Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy rất chính xác (mô hình này mới đúng là nền tảng của bộ môn Tử Vi như tôi đã từng chứng minh trong cuốn sách Giải Mã Những Bí Ẩn Trong Tử Vi)


Tiện đây cũng nên nhắc đến là trong bộ môn Tử Vi có các danh sư cho rằng khi vận đến tam hợp Thái Tuế thì thuận lợi (hình như là xuất phát từ cụ Thiên Lương?).  Điều này đúng, nhưng chỉ đúng 83.33%.  Còn lại 10 tuổi sẽ không hưởng được sự hanh thông vì tam hợp Thái Tuế của những tuổi này tương khắc với bản mệnh.  Xem hình H11. 



ĐIỂM NHẤN BỎ TÚI:
Nếu một đời người sống đủ 80 năm thì ai ai cũng sẽ phải trải qua hai vận xấu và sáu vận tốt.  Nhưng thực tế không phải vậy. Tỉ lệ xấu tốt tùy thuộc vào phần phước và sinh mạng dài ngắn của từng người. 

Những sự việc xảy ra trong suốt cuộc đời, dầu cường độ và biến tấu có thế nào đi nữa thì tựu chung lại vẫn là một bản hòa âm Phúc/Họa đã nằm trong giới hạn thiết kế của vị nhạc trưởng Mệnh & Cục.      

Tuy nhiên, có điều lý thú là hai người có cùng một số phận tiềm ẩn đồng thời có cùng một cuộc diện nhưng số phận thể hiện có thể không giống nhau, và nếu có giống nhau cũng không hẳn đã đồng cường độ.

Tại sao?  Tại có Trời nhưng còn có cái đầu của ta do Trời ban để tự do chọn lựa ý nghĩ và hành động cho chính mình.  Chính điều này làm nên sự kỳ diệu của số phận.  

Cũng vì điều đó mà các môn lý số chỉ có thể dự đoán chứ không thể khẳng định. Số phận tiềm ẩn không phải là một bản hòa âm Phúc/Họa đã kết thúc. Tất cả mọi vận hành đều tuân theo qui luật xác suất. Chỉ sau khi đồng tiền đang xoay đã ngã xuống và nằm yên thì lúc đó xác suất mới là 100%-0%, tức là mới thực sự có thể khẳng định.  Số phận tiềm ẩn giống như đồng tiền đang xoay không thể khẳng định.   
 
Và với sự tự do chọn lựa ý nghĩ và hành động cho chính mình, xin nhớ cho rằng "hiệu ứng của một cánh bướm đập rất khẽ ở Brazil có thể là cơn bảo lốc ở Texas" (Edward Norton Lorenz).  Như vậy thì thử hỏi ý nghĩ và hành động của chính mình, dầu là vi tế và dường như không đủ quan trọng để tác động lên bất cứ thứ gì, làm sao không thể biến cải được số phận tiềm ẩn của chính mình?

Chúc bạn an vui.


  

Tuesday, October 13, 2015

PHỐI CAN, CHI, NGŨ HÀNH TRÊN 12 CUNG BÀN VÀ TRÊN BÀN TAY

Hà Hưng Quốc

Trong bài này bạn sẽ được hướng dẫn để biết cách phối Địa Chi, Thiên Can, Ngũ Hành vào 12 cung trên giấy (như thiên bàn Tử Vi) và trên bàn tay.  Hy vọng  bài này sẽ hữu ích với bạn.


PHỐI ĐỊA CHI VÀO 12 CUNG:
Có tất cả 12 Địa Chi, vắn tắt là Chi, gồm Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Trước hết chúng ta vẽ xuống giấy 12 cung, kết hợp từ năm vạch  ngang và năm vạch dọc. Vạch giữa ngang lẫn dọc đều cách đoạn ở giữa tạo thành bốn cung phía trên, bốn cung phía dưới, bốn cung phía trái, bốn cung phía phải, và ở giữa là vùng trống.  Có tất cả 12 cung như cho thấy trong hình H8A.

Từ vị  trí "Start Here" ghi là cung Tí, rồi theo chiều kim đồng hồ thứ tự ghi những cung còn lại là Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.  Mỗi Chi chiếm một cung. 

Sau khi phối 12 chi vào 12 cung, nó sẽ giống như cho thấy trong hình H8A.




Tương ứng với 12 cung trên giấy, trên bàn tay trái chúng ta dùng ngón cái bấm vào gốc của ngón áp út, vị trí đó là cung Tí. Rồi theo chiều kim đồng hồ bấm vào những cung  kế tiếp theo thứ tự Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.  Hình H8.1 cho thấy vị trí của 12 chi nằm trên bàn tay.



PHỐI NGŨ HÀNH VÀO 12 CUNG: 
Ngũ Hành, như tên gọi, có tất cả 5 hành là Mộc, Kim, Thủy, Hỏa, Thổ.

Theo chiều kim đồng hồ chúng ta lần lượt ghi 5 hành vào vị trí 12 cung như sau:
- Mộc, màu xanh lá, vị trí 2 cung Dần & Mẹo;
- Thổ, màu nâu, vị trí cung Thìn;
- Hỏa, màu đỏ, vị trí 2 cung Tỵ & Ngọ;
- Thổ, màu nâu, vị trí cung Mùi;
- Kim, màu trắng, vị trí 2 cung Thân & Dậu;
- Thổ, màu nâu, vị trí cung Tuất;
- Thủy, màu đen, vị trí 2 cung  Hợi &Tí; và 
- Thổ, màu nâu,vị trí cung Sửu.

Sau khi phối 5 hành vào 12 cung, nó sẽ giống như trong hình H8B.  Không nhất thiết phải phối năm màu vào 12 cung. Nếu muốn chúng ta chỉ cần viết vào các chữ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ vào 12 cung đúng với vị trí năm hành là đủ.


Tương ứng với 12 cung trên giấy, với bàn tay trái chúng ta  dùng ngón tay cái bấm thuận theo chiều kim đồng hồ lần lượt qua 5 hành như sau:
- Mộc, màu xanh lá, vị trí 2 cung Dần & Mẹo;
- Thổ, màu nâu, vị trí cung Thìn;
- Hỏa, màu đỏ, vị trí 2 cung Tỵ & Ngọ;
- Thổ, màu nâu, vị trí cung Mùi;
- Kim, màu trắng, vị trí 2 cung Thân & Dậu;
- Thổ, màu nâu, vị trí cung Tuất;
- Thủy, màu đen, vị trí 2 cung  Hợi &Tí; và 
- Thổ, màu nâu,vị trí cung Sửu.

Vị trí của 5 hành nằm trên bàn tay sẽ giống như cho thấy trong hình H8.2.



PHỐI THIÊN CAN VÀO 12 CUNG: 
Có tất cả 10 Thiên Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. 

Theo chiều kim đồng hồ chúng ta lần lượt ghi 10 can vào 12 cung bàn như sau:
-Giáp vào vị trí Dần Mộc;
- Ất vào vị trí Mẹo Mộc;
- Bính vào vị trí Tỵ Hỏa;
- Đinh vào vị trí Ngọ Hỏa;
- Canh vào vị trí Thân Kim;
- Tân vào vị trí Dậu Kim;
- Nhâm vào vị trí Hợi Thủy;
- Quý vào vị trí Tí Thủy; sau cùng là
- Mậu vào 2 vị trí Thìn Thổ & Tuất Thổ; và
- Kỷ vào 2 vị trí Sửu Thổ & Mùi Thổ.

10 can sau khi phối vào 12 cung bàn sẽ giống như cho thấy trong hình H8C.




Tương ứng với 12 cung bàn, với bàn tay trái  bạn dùng ngón tay cái bấm theo chiều kim đồng hồ thứ tự 10 can:

- Giáp vị trí Dần Mộc;
- Ất vị trí Mẹo Mộc; 
- Mậu vị trí Thìn Thổ;
- Bính vị trí Tỵ Hỏa;
- Đinh vị trí Ngọ Hỏa; 
- Kỷ vị trí Mùi Thổ;
- Canh vị trí Thân Kim;
- Tân vị trí Dậu Kim; 
- Mậu vị trí Tuất Thổ;
- Nhâm vị trí Hợi Thủy;
- Quý vị trí Tí Thủy; sau cùng là
- Kỷ vị trí Sửu Thổ.

Hình H8.3 cho thấy vị trí của 10 Can nằm trên bàn tay. 



PHỐI 4 MÙA VÀ 4 PHƯƠNG VÀO 12 CUNG: 
Một chu kỳ dài một năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông.  Từ  cung Dần, theo chiều kim đồng hồ bạn lần lượt ghi:

- mùa Xuân và hướng Đông vào 2 cung Giáp Ất Mộc;
- mùa Hè và hướng Nam vào 2 cung Bính Đinh Hỏa;
- mùa Thu và hướng Tây vào 2 cung Canh Tân Kim; và
- mùa Đông và hướng Bắc vào 2 cung Nhâm Quý Thủy.

Hình H8D cho thấy kết quả sau khi phối xong 4 mùa và 4 phương vào 12 cung bàn trên giấy. 
  



Tương ứng với 12 cung bàn trên giấy, với bàn tay trái dùng ngón cái bấm theo chiều kim đồng hồ:

- mùa Xuân và hướng Đông vào 2 vị trí Giáp Ất Mộc;
- mùa Hè và hướng Nam vào 2 vị trí Bính Đinh Hỏa;
- mùa Thu và hướng Tây vào 2 vị trí Canh Tân Kim; và
- mùa Đông và hướng Bắc vào 2 vị trí Nhâm Quý Thủy. 

Kết quả cho thấy trong hình H8.4.





Đến đây là chúng ta đã phối xong 10 Can, 12 Chi, 5 Hành, 4 Mùa và 4 Phương vào 12 cung bàn.  Tiến trình rất đơn giản.  Chỉ cần thực tập nhiều lần cho đến khi quen thuộc.  Có dịp chúng ta sẽ tiếp tục phối thêm 10 số Hà Đồ và 8 quái Hậu Thiên.

Sau khi đã lĩnh hội xong dĩ nhiên là bạn có thể thay đổi theo cách phối riêng của mình cho dễ nhớ, miễn sao không sai vị trí của các can, chi, hành, mùa, hướng trên 12 cung và trên bàn tay. 


ĐIỂM NHẤN BỎ TÚI:
Tại sao mỗi hành chỉ chiếm có 2 cung nhưng riêng hành Thổ lại chiếm tới 4 cung?  Tại sao  hành Thổ lại nằm giữa mỗi cặp hành Mộc-Hỏa, Hỏa-Kim, Kim-Thủy, Thủy-Mộc? Dựa trên nền tảng nào? Mô hình nào? Nguyên lý nào?

Đây là những câu hỏi mà bạn sẽ không dễ tìm ra câu trả lời thật sự thỏa đáng.

Bây giờ xin mời bạn tập trung vào hai hình bên dưới này, chiêm nghiệm, so sánh, và tự làm một "analysis".




Xong rồi bạn hãy đào sâu thêm với những câu hỏi sau đây: 

1. Mô hình ngũ hành nằm trên bàn tay trong hình H8.3 giống với mô hình lý thuyết Ngũ Hành Phổ Cập (của Tàu) hay là giống với mô hình lý thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy (của Việt) trong hình H45?
  

2.  Trong vòng vận hành liên tục của 4 mùa xuân, hạ, thu, đông như cho thấy trong hình H8D thì 4 cung Thổ lại được đặt nằm giữa mỗi hai mùa và cũng là nằm giữa hai hành khác nhau.  Thổ nằm giữa Mộc Hỏa, Thổ nằm giữa Hỏa Kim, Thổ nằm giữa Kim Thủy và Thổ nằm giữa Thủy Mộc.  Căn cứ theo mô hình lý thuyết Ngũ Hành Phổ Cập (của Tàu) thì hành Thổ là một hành không quan trọng hơn và không có gì đặc biệt hơn 4 hành còn lại.  Như vậy thì, dựa vào căn bản nào mà có thể phối hành Thổ vào 4 cung, thay vì vào 2 cung như những hành khác? 
3. Và, dầu rằng có một căn bản hợp lý nào đó để có thể phối hành Thổ vào 4 cung,  căn cứ vào hai qui luật sinh khắc của thuyết Ngũ Hành Phổ Cập thì hành Thổ có thể nằm giữa hai hành Hỏa Kim mà không vi phạm luật tương sinh (vì Hỏa sinh Thổ và Thổ sinh Kim).  Nhưng điều này không còn đúng nữa khi:
a. hành Thổ nằm giữa Kim Thủy (vì Kim không sinh Thổ và Thổ không sinh Thủy); 
b. hành Thổ nằm giữa Thủy Mộc (vì Thủy không sinh Thổ và Thổ không sinh Mộc); và 
c. hành Thổ nằm giữa Mộc Hỏa (vì Mộc không sinh Thổ và Thổ không sinh Hỏa).  
Như vậy thì, dựa vào căn bản nào để lý thuyết Ngũ Hành Phổ Cập có thể biện giải cho những vi phạm này?
4. Trên vài diễn đàn lý số, tôi có thấy một số bạn đã đặt câu hỏi là lý thuyết ngũ hành nào đúng.  Tôi sẽ không trả lời trực tiếp. Nhưng có hai điều cần phải làm rõ: (a) đã bảo rằng năm hành đồng đẳng (căn cứ theo lý thuyết) thì không có lý do và không thể nào hành Thổ đột nhiên trở thành một hành quan trọng hơn bốn hành còn lại (nhìn thấy trên thiên bàn Tử Vi) trong vai trò trung gian mà nó đảm nhiệm tại bốn vị trí Thìn-Tuất-Sửu-Mùi.  Điều này không thể chấp nhận được vì nó trắng trợn vi phạm lôgic. (b) Ngoại trừ tại vị trí Thìn, hành Thổ tại ba vị trí còn lại vi phạm trắng trợn hai qui luật sinh khắc của lý thuyết Ngũ Hành Phổ Cập.  Hai qui luật sinh khắc là hai cái chân của mô hình lý thuyết Ngũ Hành.  Gân chân mà bị cắt thì toàn bộ lý thuyết sẽ đổ ập xuống.   
Âm Dương Ngũ Hành là một học thuyết chứ không phải là một tôn giáo.  Cho nên, nếu bạn muốn nghiên cứu thì cần dứt bỏ những "tin tưởng mù lòa".  Tôi tin rằng bạn đủ thông minh để tự có câu trả lời.  
Riêng tôi thì đã viết nhiều cuốn sách để chứng minh và đã khẳng định nhiều lần là toàn thể cấu trúc của bộ môn Tử Vi được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy và nó không giống với lý thuyết Ngũ Hành Phổ Cập của người Hoa. Bạn có thể đọc những cuốn sách này trên blog Vườn Ươm Việt Dịch của Hà Hưng Quốc
Hẹn gặp lại!

   
 

Friday, January 11, 2013

Giải Mã Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể . . . Bài 8 - Hà Hưng Quốc





GIẢI MÃ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐỂ PHỤC DỰNG SẢN PHẨM VĂN HÓA PHI VẬT THỂ: MỘT CON ĐƯỜNG TÁI HIỆN DIỆN MẠO VÀ CỘI NGUỒN ĐÍCH THỰC CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT. 



Điều mà mỗi người và mọi người có thể làm được là đừng vội phủ nhận những chấm nhỏ đó và cũng đừng vội phủ nhận phương pháp giải mã di sản văn hóa phi vật thể để phục dựng sản phẩm văn hóa phi vật thể trong nỗ lực tái hiện lại bức tranh diện mạo và cội nguồn đích thực của nền văn hóa Việt.  Dưới điều kiện khắc nghiệt của địa dư và lịch sử làm cho những chứng tích vật thể mong manh khó có thể tồn tại, con đường phục dựng sản phẩm văn hóa phi vật thể từ di sản văn hóa phi vật thể có lẽ là con đường không thiếu khôn ngoan.  Mỗi công trình có thể chỉ là một con kiến tí ti trong con mắt của những khoa học gia chính thống và dễ dàng bị cho “chìm xuồng” nhưng một khi số lượng kiến đã có thể kết nối nhau thành một bè kiến chuyên chở nổi sự thật về cội nguồn văn hóa Việt thì lúc đó kiến sẽ không còn là kiến. “  



trở lại: Giải Mã Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể . . . Bài 7
 
Bạch Thư Trong Mộ Hán Mã Vương Đôi & Trúc Giản Trong Mộ Sở Kinh Môn Quách Điếm: Bằng Chứng Củng Cố Giá Trị Của Sản Phẩm Được Phục Dựng Và Của Phương Pháp Giải Mã Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
Trong bài Nghiên Cứu Trong Thế Kĩ XX Về Lịch Sử Tư Tường Của Trung Quốc của ông Trương Hải Yến (张海燕), Sở Nghiên Cứu Lịch Sử thuộc Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, đăng trong tạp chí Trung Quốc Sử Nghiên Cứu Động Thái (中国史研究动态) số 1/2002, tr. 5-15, do học giả Nguyễn Tấn Cường dịch chú, đã viết:

 “‘Ngũ hành’ của Nho gia là trỏ ‘nhân, nghĩa, lễ, trí, thánh.’ Tuân Tử - [313TCN – 238TCN, trong thiên] Phi Thập Nhị Tử, cho rằng học trò của Tử Tư [tức Khổng Cấp, cháu nội của Không Tử] và Mạnh Tử [372TCN - 289TCN] ‘theo thời xưa mà tạo thuyết gọi là ngũ hành.Cái ‘ngũ hành’ này ‘Dương Cạnh (杨倞) đời nhà Đường [618CN - 907CN] chú rằng: ‘Ngũ Hành tức Ngũ Thường, là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín’.”

            Vào năm 1973, một ngôi mộ Hán [206TCN - 220CN] tại Mã Vương Đôi được khai quật, người ta tìm thấy trong số bạch thư có quyển Lão Tử giáp bản (bản A) và ở phần sau của quyển sách đó có một thiên giảng về “Nhân, Nghĩa, lễ, Trí, Thánh.”  Đầu thiên bị khuyết mất và các học giả đặt tên cho thiên đó là thiên Ngũ Hành.  

            Rồi năm 1993, người ta lại khai quật một ngôi mộ Sở [1030TCN – 223TCN] tại Kinh Môn Quách Điếm và tìm thấy trong số trúc giản có một thiên giản thư [sách viết trên thẻ] có tên là Ngũ Hành.  Nó có nội dung tương tự như thiên Ngũ Hành trong bạch thư tìm được trong ngôi mộ Hán ở Mã Vương Đôi, tức là nói về “nhân, nghĩa, lễ, trí, thánh.”

            Theo GS Nguyễn Hữu Quang thì “tác giả của bộ sách này [bạch thư Mã Vương Đôi] không ai khác hơn là Thầy Tử Tư, cháu đích tôn của Đức Khổng Phu Tử và Thế Tử là một nhân vật thời Chiến Quốc mà cho đến hôm nay cũng chưa ai biết được danh tính và lai lịch” (Nguồn: Hán Việt Dịch Sử Lược, Chương 3 - Thiên Văn Lịch Toán).

            Từ những thông tin trên chúng ta có thể xác định được một vài điều: (1) Ngũ Thường của Nho Gia thời Chiến Quốc là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh.  Đến đời Đường (và có thể sớm hơn) đã biến ra thành Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.  (2) Ngũ Hành và Ngũ Thường có sự liên quan mật thiết.  Và (3) Ngũ Hành thời Chiến Quốc là mô phỏng theo “thời xưa.”  Nói một cách khác, là thuyết Ngũ Hành đã có trước thời Chiến Quốc rất lâu (vì trước rất lâu nên mới gọi là thời xưa).   

            Ngày hôm nay nếu chúng ta vào Google gỏ “nhân, nghĩa, lễ, trí, thánh” để truy tìm thì chúng ta sẽ được vỏn vẹn 4 kết quả.  Trong khi đó nếu gỏ vào “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” thì chúng ta sẽ nhận được 630 ngàn kết quả.  Điều này cho thấy hình như ít có người quan tâm đến sự khác biệt giữa Ngũ Thường thời Chiến Quốc so với Ngũ Thường từ đời Đường trở về sau này.  Nhưng sự khác biệt này là một phát hiện quan trọng, ít ra là đối với mạch Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy và với nguồn gốc văn hóa Việt.

            Quan trọng như thế nào?  Trước hết chúng ta hãy nhìn vào hình P6 mô tả sự tương quan giữa Ngũ Thường và Ngũ Hành ở hai thời điểm, thời Chiến Quốc và thời Đường.


            Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là 5 đặc tính “đồng đẳng” làm nên nhân cách của một mẫu người lý tưởng gọi là “quân tử” trong học thuyết của Nho Gia Phổ Cập từ thời Đường trở về sau.  Ngũ Thường Phổ Cập này tương ứng với Lý Thuyết Ngũ Hành Phổ Cập, trong đó Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là 5 vật chất “đồng đẳng cấp.”  Sự tương ứng này cho thấy trong hình P6, một nửa bên dưới. 



Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh là 5 đặc tính “không đồng đẳng cấp” trong mô hình Ngũ Thường Nguyên Thủy (vào thời Chiến Quốc trở về trước).  Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí là 4 đặc tính của người quân tử đúng với nguyên tác"Quân tử sở tính Nhân nghĩa lễ trí" của Nho Giáo Nguyên Thủy.  Bốn phẩm chất này (nằm ở vòng ngoài) làm nên nhân cách của một con người toàn vẹn để rồi từ sự toàn vẹn đó có thể bước vào vị trí Thánh (nằm ở trung tâm).  Thánh là một đặc tính vượt trên hẳn những đặc tính làm nên nhân cách toàn vẹn của một con người bình thường.  Ngũ Thường Nguyên Thủy tương ứng với Lý Ngũ Hành Nguyên Thủy, trong đó Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là 5 hành “không đồng đẳng cấp.”  Thổ là một hành quan trọng hơn vì nó chi phối và điều hợp bốn hành còn lại và nó nằm vào vị trí trung ương.  Hình P6, một nửa phía trên, cho thấy sự tương ứng giữa Ngũ Thường Nguyên Thủy với Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy. 

Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh của Ngũ Thường Nguyên Thủy còn cho thấy một điều quan trọng khác trong học thuyết Nho Giáo Nguyên Thủy.  Đó là, Đức Khổng Phu Tử muốn dẫn dắt con người “về đến chỗ trọn NGƯỜI, đạt đến chỗ THÁNH” hay nói một cách khác là từ Người tới Thánh, chứ không phải để nặn ra một mẫu người “quân tử “ sặc mùi chính trị “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.”  NGƯỜI và THÁNH trong Nho Giáo Nguyên Thủy hoàn toàn khế hợp với minh triết của Việt Dịch.  Nói về minh triết của Dịch Việt, HHQ đã ghi trong Việt Dịch như sau:

Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết: Vòng ngoài là chỗ của nhiều còn tâm trung là nơi của một.  Vòng ngoài là trú xứ của sinh sinh hoá hóa còn tâm trung là trú xứ của diệu diệu huyền huyền.  Từ tâm đi ra ngoài là hướng ngoại, từ ngoài trở về tâm là hướng nội.  Từ tâm đi ra ngoài là con đường của nhơn dục còn từ ngoài trở về tâm là con đường của thiên lý. Hướng ngoại để có nhiều, hướng nội để giữ một.  Theo nhiều là lý do của điên đảo, quay cuồng.  Giữ một là cái gốc của thường tịnh lặng lẽ.  Tâm trung là đền Thánh của đức Thổ, nhơn sanh tiến vào đền Thánh lễ bái không ngoài một chữ Tín.  Vòng ngoài là nhà lửa của tam giới, lìa bỏ đền thánh để chui vào nhà lửa vui đùa không ngoài một chữ dục của vọng ý. 

Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết: Tâm trung là chỗ để giữ đạo tam tòng: tòng thiên, tòng địa và tòng nhân.  Vòng ngoài là chỗ để giới trì tứ đức: đức Nhân của Mộc, đức Nghĩa của Kim, đức Trí của Thủy, đức Lễ của Hỏa.  Thế nào là giữ đạo tam tòng?  Trời vốn ‘dĩ dị tri’ đất vốn ‘dĩ giản năng.’  Mà giản dị thì ‘dị tắc dị tri, giản tắc dị tòng’[1] dễ biết dễ theo.  Một khi đã dễ biết dễ theo thì có lắm người biết nhiều người theo do đó mà thành tựu công nghiệp lớn ‘dị tri tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công, hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại, khả cửu tắc hiền nhân chi đức, khả đại tắc hiền nhân chi nghiệp.’ [2]  Nắm được đạo lý giản dị là nắm được đạo lý trong thiên hạ.  Đã nắm được đạo lý trong thiên hạ thì đứng giữa cùng với trời và đất ‘dị giản nhi thiên hạ chi lí đắc hĩ, thiên hạ chi lý đắc nhi thành vị hồ kì trung hĩ.’ [3]  Đứng chung được với trời đất tức là đã giữ đạo tam tòng.  Thế nào là giới trì tứ đức?  Trời đất không có tư tâm, thánh nhân không có tư tâm, cho nên mới nói trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm, thánh nhân bất nhân coi bá tánh như chó rơm, ‘thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu, thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.’ [4]  Trời đất hành sự chẳng vì mình cũng chẳng vì ai.  Thánh nhân hành sự chẳng vì mình cũng chẳng vì ai.  Hành sự chẳng vì mình cũng chẳng vì ai chánh thật là giới trì.  Ở giữa thiên hạ, lấy thiên hạ làm lòng mình, coi hết thảy như trẻ thơ, ‘tại thiên hạ, hấp hấp vị thiên hạ hỗn kỳ tâm, thánh nhân dai hài nhi,’ [5] đó chánh thật là đức Nhân.  Lấy đạo giúp cho người lãnh đạo, không lấy bạo quyền cưỡng bức thiên hạ, ‘dĩ đạo tá nhân chủ dả, bất dĩ binh cường thiên hạ,’ giữ cái vô danh mộc mạc để trí vô dục, tâm yên tịnh, thiên hạ được bình yên ‘dĩ vô danh chi phác, vô danh chi phác phù diệc tương vô dục, bất dục chi tỉnh, thiên hạ tương tự định,’ [6] đó mới chánh thật là đức Nghĩa.  Không can thiệp dân sẽ tự nhiên vô tư, không áp bức dân sẽ tự nhiên ngay thẳng, không bày vẽ dân sẽ tự nhiên giàu có, không tham lam dân sẽ tự nhiên thật thà, ‘ngã vô vi nhi dân tự hóa, ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nghi dân tự phú, ngã vô dục nhi dân tự phác,’[7] cho nên lấy ngay thẳng mà trị quốc, lấy vô sự mà giữ yên thiên hạ, ‘dĩ chính trị quốc . . . dĩ vô sự thủ thiên hạ,’ [8] giúp dân từ bỏ cái quá độ để quay về với tự nhiên, ‘phục chúng nhân chi sở quá, dĩ phụ vạn vật chi tự nhiên,’ [9] lấy thấp làm nền, lấy hèn là gốc ‘dĩ tiện vi bản, dĩ hạ vi cơ’ để ngồi trên mà dân không thấy nặng, ở trước mà dân không thấy ngại, ‘xử thượng nhi dân bất trọng, xử tiền nhi dân bất hại,’ [10] đó mới chánh thật là đức Lễ.  Biết đủ không nhục, biết ngừng không nguy, được cái lâu bền, ‘tri túc bất nhục, tri chỉ bất đải, khả dĩ trường cửu,’ [11] làm trọn vẹn mà dường như dở dang nhưng dùng mãi chẳng hư, có đầy đủ mà dường như trống rỗng nhưng dùng mãi không hết, rất ngay thẳng mà như cong, rất hay mà như dở, rất hùng biện mà như ấp úng, ‘đại thành nhược khuyết kỳ dung bất lệ, đại doanh nhược xung kỳ dụng bất cùng, đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nột,’ [12]  không ra cửa mà biết khắp thiên hạ, thấy rõ đạo trời, ‘bất xuất hạ tri thiên hạ, bất khuy dũ kiến thiên đạo’ [13] quay về gốc tịnh, phục mệnh thường hằng, ‘chí hư cực . . . phục mệnh viết hằng’ [14] đó mới chánh thật là đức Trí.  Ở chỗ điên đảo, quay cuồng mà vẫn ung dung tự tại là nhờ trong không xa đạo tam tòng ngoài không lìa giới trì tứ đức.  Giữ đạo tam tòng, giới trì tứ đức là cung cách của hiền thánh.
          
Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết: Tâm trung là trái tim nguyên thể và vô nhiễm.  Vòng ngoài là nơi đã làm cho máu của Đức Chúa chảy ra.  Ngài ‘có khả năng chuyển hóa, đem tù hãm tối tăm, đốt tan trong ánh sáng, những nghiêng lệch tạm thời, bỗng chốc về đúng chỗ, trời người đất dung thông, thế giới hoát đại đồng, thiêng liêng và huyền nhiệm’ [15] là vì tâm nội chưa từng lìa nguyên thể và vô nhiễm, thân ngoại chưa từng lìa tôn nghiêm và hiền thiện.  Ở chỗ ác trược tối tăm mà vẫn nguyên thể và vô nhiễm, vẫn tôn nghiêm và hiền thiện là phẩm hạnh của đấng Chúa Thánh Thần.    

Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết: Tâm trung là chỗ vô chấp, vô cầu, vô sinh, vô diệt, bất đồng, bất dị.  Vòng ngoài là chỗ không thực tánh thực tướng, của chấp trước, của trùng trùng duyên khởi, của huyễn hóa, của vô minh, của sinh diệt, của biển nghiệp lực.  Tâm trung là thế giới của ‘diệu trạm tổng trì bất động tôn,’ [16] là đại viên cảnh trí, là đương xứ tức chân, là tuyệt thánh khí trí, là bất động hiện quán, là bản lai diện mục, là sanditthiko, là akàliko, là opanayiko.  Vòng ngoài là thế giới ‘như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điển,’ [17] là ‘hoa đốm giữa hư không,‘ [18] là lý trí vọng thức, là chỗ ‘gate, gate, paragate, parasamgate,’ [19]  là khổ đế và tập đế.  Tâm trung là nhà của Như Lai. Vòng ngoài là chỗ hiển bày vạn pháp.  Bồ tát thường tịnh thường lặng ngay giữa chốn điên đảo quay cuồng là vì tâm nội chưa từng lìa nhà Như Lai, thân ngoại chưa từng lìa Pháp Giới; là vì vốn thấy rõ tất cả pháp đều huyễn hóa nên lìa tâm thức phân biệt chẳng thấy bốn tướng ‘nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả,’ chẳng thương, chẳng ghét; là vì vốn thấy rõ mọi hiện tượng thế gian đều ‘không thêm, không bớt, không dơ, không sạch’ [20] nên chẳng lìa ‘bình đẳng tánh trí,’ chẳng buông bỏ gì, chẳng nắm giữ gì, chẳng đến, chẳng đi; là vì vốn thấy rõ ‘thế gian như chiêm bao mà khởi lòng đại bi’ [21] nên chẳng lìa thực tại hiện tiền, trong huyễn cảnh hiện huyễn thân dụng huyễn pháp nương huyễn phương tiện cứu độ huyễn chúng sanh, tùy duyên bất biến.  Giữa thế gian mà không bị những cái khổ của thế gian trói buộc chính là quán tự tại.    

Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết: Tâm trung là Đạo, vòng ngoài là Danh.  Danh là chỗ của có không.  Không là tên gọi lúc khởi đầu trời đất, là ’vô, danh thiên địa chi thủy.’ [22] Có là tên gọi lúc nảy sinh, là ‘hữu, danh vạn vật chi mẫu.’ [23]  Thánh nhân lấy cái không để chiêm ngưỡng sự kỳ diệu, lấy cái có để xem xét sự tinh vi, ‘cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu, thường hữu dục dĩ quan kỳ hiếu.’ [24] Có không cùng hiện hữu.  Thánh nhân không thiên vị.  Theo đạo tự nhiên nên không cố làm, dạy đạo tự nhiên nên không cố nói, cùng một thể với đạo, ‘xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo.’ [25]  Ở chỗ có không thánh nhân làm khe nước cho người khát, thành việc mà không kể công, thành công mà không ở lại, rỗng tâm, no lòng, mềm chí, cứng xương, khiến dân không dám tham, khiến kẻ trí không dám dùng thủ đoạn, thường hay cứu người nên không bị bỏ rơi, thường hay cứu vật nên không bị vứt đi. Thân tuy ở Danh nhưng tâm thì ở Đạo.  Lòng đạo vốn trống không nên dung chứa vô cùng.         

Việt Dịch Đồ dưới lăng kính minh triết: Tâm trung là đất của tiên thiên, vòng ngoài là chỗ của hậu thiên.  ‘Tiên thiên thì tịch tịnh như nhiên, bất sanh bất diệt. Hậu thiên thì luôn luôn biến dịch và có cơ biến hóa hai chiều: chiều sanh và chiều tử.’ [26]  Tâm trung là chỗ của ‘Thái Cực hiện nơi cung Vô Cực, là hoa khai kiến phật; Thái Cực có hiện nơi cung Vô Cực thì Vô Cực mới thành chí huyền chí diệu,’ mới là ‘huyền chi hựu huyền’ [27]  Vòng ngoài là chỗ ‘dùng chơn Thủy giúp cho Hỏa minh linh,’ là nơi ‘để đức cương kiện hiệp với đức nhu thuận,’ để ‘chân trí linh tri tương hiệp, chân tình chân tánh đồng khí, cương nhu phối nhau quay về Trung Chánh’ chỗ chân Thổ là nơi ‘Mậu Kỷ hiệp nhau biến thành đao khuê’ [28] điểm hợp nội ngoại chi đạo để ‘kiến tố’ để ‘phục mện’ [29] chính chỗ dụng tâm của tiên gia.   

Giữa tâm trung với vòng bên ngoài của Việt Dịch Đồ, lý sự có thể tóm lại trong một chữ Dịch.  Nó hàm chứa sự thông dung và diệu dụng.  Nó hàm chứa sự tự nhiên và vô ngại.  Nó hàm chứa một thế giới nhị nguyên trong trạng thái tương tác hài hòa.  Đó chính là Dịch.  Hiểu và sống trong sự tương tác hài hòa đó chính là nền tảng của minh triết VIỆT.“
  
Nghiệm lại nghĩa lý của cặp đồng đạo tương ứng Ngũ Thường Phổ Cập (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) và Ngũ Hành Phổ Cập (5 hành vật chất đồng đẳng) rồi so với nghĩa lý cao siêu của cặp đồng đạo tương ứng Ngũ Thường Nguyên Thủy (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh) và Ngũ Hành Nguyên Thủy (5 hành thiên văn bất đồng đẳng), không khó để nhận ra một sự khác biệt rất lớn.
          
            Như đã nói, Ngũ Thường Nguyên Thủy là đồng đạo tương ứng của Ngũ Hành Nguyên Thủy.  Do đó khám phá “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh” trong những di chỉ cổ nhất và đáng tin cậy nhất mà nhân loại có được từ hai vụ khai quật mộ cổ ở Mã Vương Đôi và Kim Môn Quách Điếm chính là có thêm bằng chứng vật thể củng cố cho sự chính xác của mô hình Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy. 

Quan trọng hơn là chính sự chính xác của những sản phẩm được phục dựng từ phương pháp giải mã di sản văn hóa phi vật thể đã cho thấy giá trị của những sản phẩm văn hóa phi vật thể được phục dựng và của chính phương pháp giải mã di sản văn hóa phi vật thể để phục dựng những sản phẩm văn hóa phi vật thể đó. 

 Đồng thời nó tiếp tay làm sáng tỏ một SỰ THẬT mà nhiều học giả “cấp tiến” của Việt Nam đang cố chứng minh bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có cả phương pháp giải mã di sản văn hóa phi vật thể để phục dựng sản phẩm văn hóa phi vật thể.  SỰ THẬT đó rất đơn giản: NỀN VĂN MINH VIỆT CỔ ĐÃ ĐẺ RA NỀN VĂN MINH TRUNG HOA.         

            Như Trương Hải Yến đã viết “Tư tưởng triết học của dân tộc Trung Quốc đã có ngay từ thời Lão Tử và Khổng Tử, điều này không có gì để nghi ngờ.”  Mà Khổng Tử thì đã nói với học trò của mình là “[Ta] chỉ thuật lại mà không trước tác, [Ta] tin vào đạo lý của đời xưa - [Ngô] thuật nhi bất tác, [Ngô] tin nhi hiếu cổ ” và cũng đã xác định một sự thật là nguồn gốc của văn minh nằm ở phương Nam, được ghi lại trong sách Trung Dung: “Độ luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa,  không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy!  Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó.” Tuân Tử cũng xác nhận Ngũ Hành Nguyên Thủy (đồng đạo tương ứng của Ngũ Thường Nguyên Thủy là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh) là mô phỏng theo “thời xưa.”  Vậy thời xưa là thời xưa nào, nếu không phải là thời người Việt cổ còn làm chủ trọn vẹn đất Trung Nguyên?  Văn minh phương Nam là văn minh của ai, nếu không là văn minh của cổ Việt?    
  
tiếp theo: Giải Mã Di Sản văn Hóa Phi Vật Thể - Bài 9

[1] Hán Văn trích từ Hệ Từ Truyện, Chương 1 của Kinh Dịch
[2] Hán Văn trích từ Hệ Từ Truyện, Chương 1 của Kinh Dịch
[3] Hán văn trích từ Hệ Từ Truyện, Chương 1 của Kinh Dịch
[4] Đạo Đức Kinh, Hư Dụng, Lão Tử
[5] Đạo Đức Kinh, Nhiệm Đức, Lão Tử
[6] Đạo Đức Kinh, Vi Chính, Lão Tử
[7] Đạo Đức Kinh, Thuần Phong, Lão Tử
[8] Đạo Đức Kinh, Thuần Phong, Lão Tử
[9] Đạo Đức Kinh, Thuần Phong, Lão Tử
[10] Đạo Dức Kinh, Hậu Kỷ, Lão Tử.
[11] Đạo Đức Kinh, Lập Giới, Lão Tử
[12] Đạo Đức Kinh, Hồng Đức, Lão Tử
[13] Đạo Đức Kinh, Giám Viễn, Lão Tử
[14] Đạo Đức Kinh, Quy Căn, Lão Tử
[15] Thơ của Hà Hưng Quốc
[16] Kinh Thủ Lăng Nghiêm
[17] Kinh Kim Cang
[18] Kinh Hoa Nghiêm
[19] Kinh Bát Nhã Tâm
[20] Kinh Bát Nhã Tâm
[21] Kinh Lăng Già
[22] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão Tử
[23] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão Tử
[24] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão T ử
[25] Đ ạo Đ ức Kinh, Lão T ử
[26] Dịch Lý Khai Nguyên của Đức Đông Phương Lão Tổ, thánh giáo Cao Đài.
[27] Đức Lão Tử
[28] Trích thánh giáo Cao Đài.
[29] Đức Lão Tử