Showing posts with label Tốn. Show all posts
Showing posts with label Tốn. Show all posts

Friday, October 29, 2010

Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#12)

Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời

trở về: Việt Dịch - bài 11

Không những Việt Dịch Đồ có khả năng mô tả chu kỳ sinh hóa của con người và của thiên nhiên, đồ hình còn có khả năng mô tả những hiện tượng sinh lý và tâm lý của con người.  Chúng ta thử xét đến một vài trường hợp để xem mô hình có giải thích được những trải nghiệm quen thuộc trong thế giới hiện tượng.
      

Nếu lấy 5 quái theo thứ tự Đoài, Cấn, Khảm, Càn, Chấn trên Hậu Thiên Bát Quái của Việt Dịch Đồ như vòng cung A trong hình H30, chúng ta sẽ có tập hợp A đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:




A: {(nữ/ âm hộ) + (nam/ dương vật) + (thận/ dục/ nguyên tinh) + (trọc tinh/ tinh xuất ra ngoài) + (chấn động/ run rẩy/ co giật)}.  Hay trình bày một cách khác là A: {âm hộ người nữ [phối] với dương vật người nam [làm cho] thận động dục [rồi] nguyên tinh biến thành trọc tinh xuất ra ngoài [theo đó cơ thể] chấn động và co giật}. 

Những chữ trong ngoặc vuông [   ] là thêm vào để giúp làm sáng nghĩa.  Nhìn vào nội dung của tập hợp A chúng ta thấy gì?  Phải chăng là nó mô tả hiện tượng giao cấu của hai bộ phận sinh dục khác giới tính, cũng là sự giao hợp giữa người nam và người nữ, với thứ tự trước sau của những giai đoạn trải nghiệm sinh lý?


Nếu chỉ lấy hai quái theo thứ tự Cấn, Đoài trên Hậu Thiên Bát Quái của Việt Dịch Đồ như vòng cung M trong hình H31 và hai quái theo thứ tự Đoài, Cấn như vòng cung N cũng trong hình H31.  Chúng ta sẽ có hai tập hợp M và N đại diện cho thể-dạng-tính-trạng-hành của thế hiện tượng được mô tả như sau:



M: {(người nam, chựng lại, kéo dài, cứng) + (người nữ, cùng nhịp, hòa duyệt, đẹp lòng)}.  Hay trình bày một cách khác là N: {người nam chựng lại, kéo dài, cứng [vì thế] người nữ cùng nhịp, hòa duyệt, đẹp lòng}.

N: {(người nữ, cùng nhịp, hoà duyệt, đẹp lòng) + (người nam, chựng lại, kéo dài, cứng)}.  Hay trình bày một cách khác là N: {người nữ cùng nhịp, hoà duyệt, đẹp lòng [là nhờ vào] người nam chựng lại, kéo dài, cứng}.

Nhìn vào nội dung của hai tập hợp trên chúng ta thấy được gì?  Phải chăng nó mô tả cách ứng xử của đôi bạn tình để có thể cùng đạt được sự thỏa mãn trọn vẹn?  Có phải chăng nó cho biết đôi bạn tình cần phải làm thế nào để đạt được sự hài lòng đó?   
Hai tập hợp M và N đại diện cho hai trường hợp khác nhau của sự kết hợp hai quái Đoài và Cấn.  Với tập hợp M thì Cấn là gốc còn Đoài là ngọn, gốc là chỗ phát xuất hành động còn ngọn là đối tượng của hành động, gốc là chỗ chủ động còn ngọn là chỗ động, gốc là chủ còn ngọn là khách.  Nếu nhìn theo cách xếp của Chu Dịch thì Cấn là nội quái Đoài là ngoại quái, Cấn nằm dưới Đoài nằm trên.  Còn tập hợp N thì ngược lại với M.     

  Quẻ Trạch Sơn Hàm

Sự kết hợp của hai quái Đoài và Cấn đã được Chu Dịch lý giải thành hai trường hợp.  Nếu Đoài trên Cấn dưới thì sự kết hợp được lý giải theo quẻ Trạch Sơn Hàm . Thoán truyện viết “Hàm, cảm dã, nhu thượng nhi cương hạ, nhị khí cảm ứng dĩ tương dự, chỉ nhi duyệt, nam há nữ, thị dĩ hanh lợi trinh. . .”  Tạm dịch: hàm là cảm ứng, mềm ở trên cứng ở dưới, hai khí cảm ứng nên cùng tham dự, cùng vui thỏa, nam nhường nữ, như thế sẽ tốt đẹp lâu dài.  Theo Kinh Dịch Đại Toàn của Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ và Huyền Linh Yến Lê thì chữ hàm có nghĩa là cảm ứng, là phổ quát và chữ hàm 咸 là chữ cảm 感 không có chữ tâm.  Như vậy, suy ra có thể nói chữ hàm có nghĩa là cảm ứng sinh lý chứ không phải là cảm ứng tâm lý.  Nói cách khác, hàm là cảm ứng thuần túy xác thịt.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức và hãy tìm hiểu ý nghĩa lời thoán dưới lăng kính sinh lý thì quẻ Trạch Sơn Hàm cũng có thể được lý giải là: Đoài nằm trên Cấn nằm dưới, mô tả cảm ứng xác thịt, nữ nằm ở trên nam nằm ở dưới, cả hai sẽ cùng đạt khoái cảm cùng được vừa ý, nam nằm dưới nữ, như thế sẽ tốt đẹp lâu dài . . . . Trải nghiệm tình dục của con người cho thấy quẻ Trạch Sơn Hàm hoàn toàn chính xác khi nói về tư thế làm tình “nữ trên nam dưới” và sự thỏa mãn của cả hai, quan tâm nhất là sự thỏa mãn của người nữ, do tư thế đó giúp kéo dài thời gian giao cấu tránh được tình trạng “lỗi nhịp” giữa đôi bạn tình.  Từ thỏa mãn sinh lý giúp cho người nữ vui vẻ [duyệt] về mặt tâm lý từ đó giúp bảo đảm được sự chung thủy [trinh] của người bạn tình. 
Như vậy, chẳng phải là quẻ Trạch Sơn Hàm đã gián tiếp nói lên người nữ là “đối tượng của hành động” và tính cách “khách” được tôn trọng trong sinh hoạt tình dục đúng như lý giải của tập hợp M trong hình H31 đó sao?  Chẳng phải là hai chữ “vì thế” trong lý giải của tập hợp M đã gián tiếp nói lên kết quả “chựng lại, kéo dài” tự nhiên của vị thế nữ trên nam dưới được quẻ Trạch Sơn Hàm mô tả đó sao? 

Quẻ Sơn Trạch Tổn

Ngược lại, nếu như Cấn trên Đoài dưới thì sự kết hợp được giải thích theo quẻ Sơn Trạch Tổn .  Thoán truyện viết “Tổn, tổn hạ ích thượng, kỳ đạo thượng hành, hữu phu, nguyên cát, vô cữu, khả trinh, lợi hữu du vãng, hạt chi dụng . . .”  Tạm dịch: hao mất, người bên dưới mất mát người bên trên được lợi, ấy là nguyên ủy làm người trên, có chân thành, tốt đẹp như lúc đầu, không lỗi, có thể duy trì, lợi sẽ tới, biết dùng thế nào chứ.  Tượng viết “Sơn hạ hữu trạch, tổn, quân tử dĩ trừng phẫn truất dục.”  Tạm dịch: núi trên đầm dưới, tổn hại, quân tử lo dẹp giận trừ dục.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức và hãy tìm hiểu ý nghĩa lời thoán dưới lăng kính sinh lý thì lời thoán có thể hiểu là: nữ nằm dưới nam nằm trên là tổn hại, vì là thỏa mãn cho người nam mà không thỏa mãn cho người nữ, ấy là đạo lý của chuyện nam nằm trên, nếu bạn tình đủ chân thành thì mới duy trì được như lúc đầu, nếu bạn tình không trách móc phàn nàn, thì mới khả dĩ duy trì được quan hệ, mới có cơ tiến triển, biết phải làm thế nào chứ? . . .  Và lời tượng có thể hiểu là: nam ở trên nữ ở dưới là tổn hại, người đàn ông biết chuyện thì lo dẹp trừ sự phẫn uất tâm lý và giải trừ sự ẩn ức sinh lý của bạn tình.  Trải nghiệm tình dục của con người cho thấy quẻ Sơn Trạch Tổn hoàn toàn chính xác khi nói về tư thế làm tình “nam trên nữ dưới” và hệ lụy mang đến do tư thế này gây ra, tư thế mà người nam khó có thể kéo dài thời gian giao cấu so với tư thế người nữ nằm trên.  Nếu không khéo thì người nữ không được thỏa mãn.  Kéo dài tình trạng không được thỏa mãn sinh lý sẽ đưa đến những tổn hại về tâm lý và tổn hại về quan hệ của hai người, thể hiện dễ thấy nhất của tổn hại tâm lý là sự gắt gỏng hay phẫn nộ bất chợt và sự tổn hại của quan hệ thể hiện cao nhất là người bạn tình của mình sẽ đi tìm người bạn tình khác.  Có tổn hại hay không và tổn hại tới đâu thì còn tùy thuộc vào mức độ “phiền não” do sự lỗi nhịp gây ra trong sinh hoạt tình dục và tùy thuộc vào sự chân thành trong tình cảm của đôi bạn tình, vì thế lời thoán mới nói “nếu như bạn tình không trách móc” và “nếu bạn tình đủ chân thành.”  Một khi đã có đủ chân thành thì mọi thứ đều có thể phơi bày để thấy rõ vấn đề, để hiểu rõ nhau.  Và người đàn ông biết chuyện sẽ biết làm sao để thiết lập sự thăng bằng và hài hòa về cả hai mặt sinh lý và tâm lý cho chính mình và cho người bạn tình của mình. 
Như vậy, chẳng phải là quẻ Sơn Trạch Tổn đã nhấn mạnh việc người nam phải biết điều tiết để đáp ứng nhu cầu của bạn tình đó sao?  Chẳng phải là lý giải của tập hợp N trong hình H31 cũng đã nhấn mạnh điều này với những chữ “là nhờ vào” đó sao? 
Nếu vận dụng vào lãnh vực tư vấn tâm sinh lý cho cá nhân thì hai quẻ Sơn Trạch Tổn và Trạch Sơn Hàm nói riêng hay Việt Dịch Đồ nói chung không kém khoa học và không thiếu sự “thông tình đạt lý” phải không?


Nếu lấy 6 quái theo thứ tự Đoài, Ly, Khôn, Tốn, Cấn, Khảm trên Hậu Thiên Bát Quái của Việt Dịch Đồ như vòng cung B trong hình H32 và 6 quái theo thứ tự Cấn, Khảm, Càn, Chấn, Đoài, Ly như vòng cung C, chúng ta sẽ có được hai tập hợp B và C đại diện cho dạng-tính-thể-trạng-hành của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:



B: {(người nữ) + (trái tim, dâng hiến) + (kín đáo, tế nhị) + (len lén, thâm nhập) + (người nam) + (ưu lự, dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác là B: {(người nữ + trái tim, dâng hiến + kín đáo, tế nhị) à (len lén, thâm nhập) à (người nam + ưu lự, dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác nữa là B: {nàng đã yêu chàng [nên] kín đáo, tế nhị, len lén thâm nhập [vào trái tim chàng] rồi [cuối cùng thì] chiếm trọn tâm tư của chàng}.

C: {(người nam) + (ưu lự, dục tình) + (bày tỏ, tình yêu, mãnh liệt) + (làm rung động, làm xúc động) + (người nữ) + (con tim)}.  Hay trình bày một cách khác C:  {(người nam + ưu lự dục tình + bày tỏ tình yêu mãnh liệt) à (làm rung động, làm xúc động + người nữ + con tim)}.   Hay trình bày một cách khác nữa C: {chàng đã yêu nàng [nên không ngại] bày tỏ tình yêu mãnh liệt của mình [và sự bày tỏ đó] đã làm rung động, làm xúc động con tim nàng}.



Nhìn vào nội dung của hai tập hợp trên chúng ta thấy gì?  Phải chăng nó mô tả hiện tượng tâm lý “phải lòng nhau” giữa nam nữ, trong đó cho thấy hình ảnh một người nam yêu một người nữ nên đã bày tỏ tình yêu và đã làm rung động con tim nàng đồng thời cho thấy hình ảnh của một người nữ yêu một người nam nhưng kín đáo tế nhị và tình yêu của nàng đã len lén thâm nhập vào và chinh phục trọn vẹn tâm tư của người nam?   


Nếu lấy 5 quái theo thứ tự Khảm, Càn, Chấn, Đoài, Ly trên Hậu Thiên Bát Quái của Việt Dịch Đồ như vòng cung D trong hình H33 và lấy 5 quái theo thứ tự Ly, Khôn, Tốn, Cấn, Khảm như vòng cung E cũng trong hình H33, chúng ta sẽ có hai tập hợp D và E đại diện cho thể-dạng-tính của thế giới hiện tượng được mô tả như sau:


D: {(thông minh, mưu trí) + (tình yêu, tâm rộng lượng, lòng quảng đại, ý chí cao xa, tính quân tử) + (sự rung động, sự xúc động) + (người nữ) + trái tim)}.  Hay trình bày một cách khác là D: {(thông minh, mưu trí + tình yêu, tâm rộng lượng, lòng quảng đại, ý chí cao xa, tính quân tử) à (sự rung động, sự xúc động + người nữ + con tim)}.  Hay trình bày một cách khác nữa là D: {tình yêu [cộng với] thông minh, mưu trí, tâm rộng lượng, lòng quảng đại, ý chí cao xa, tánh quân tử [của chàng đã làm cho] con tim nàng rung động}.

E: {(nhan sắc, trái tim, chân thành, sự dâng hiến) + (kín đáo, tế nhị, ôn nhu) + (len lén, thâm nhập, vươn vấn) + (người nam + ưu lự, dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác là E: {(nhan sắc, trái tim, chân thành, sự dâng hiến + kín đáo, tế nhị, ôn nhu) à (len lén, thâm nhập, vươn vấn + người nam + ưu lự, dục tình)}.  Hay trình bày một cách khác nữa là E: {nhan sắc, trái tim, sự chân thành, sự hiến dâng [cộng với] sự kín đáo, tế nhị, ôn nhu của nàng [đã] len lén thâm nhập làm vươn vấn lòng chàng [rồi cuối cùng là] chiếm cứ trọn vẹn tâm tư}.


Nhìn vào nội dung của hai tập hợp này chúng ta thấy gì?  Có phải chăng nó mô tả quy luật hấp dẫn bạn tình trong đó một tập hợp của những yếu tố tâm sinh lý tạo nên sự hấp dẫn để thu hút người khác phái dành cho người nữ hoàn toàn khác với tập hợp của những yếu tố dành cho người nam?   Có phải chăng trải nghiệm của con người cho thấy những gì được mô tả bởi đồ hình rất là chính xác, nếu cảm xúc và ứng xử của con người không bị cương toả hay bị bóp méo bởi áp lực và toan tính?     
Ngoài trái tim của người nữ, người nam còn có những tiêu chuẩn khác bao gồm: nhan sắc, sự chân thành, sự hiến dâng, sự kín đáo, sự tế nhị, và tính tình ôn nhu của người nữ.  Ngoài tình yêu thực sự của người nam, người nữ còn có những tiêu chuẩn khác bao gồm: tâm rộng lượng, lòng quảng đại, ý chí cao xa, tính quân tử, và sự bày tỏ tình yêu của người nam [bằng lời và bằng hành động cụ thể, không phải chỉ một lần mà luôn luôn].    
Ở đây mô hình đặc biệt làm sáng tỏ hiện tượng “rung động” ở Chấn và “thâm nhập” ở Tốn trong giao hưởng tâm lý của đôi bạn tình.  Như vậy, thử nhìn vào sự kết hợp của hai yếu tố rung động và thâm nhập đại diện bởi hai quái Chấn và Tốn xem người xưa lý giải như thế nào.

 Quẻ Lôi Phong Hằng
Sự kết hợp của hai quái Chấn Tốn được Chu Dịch lý giải thành hai trường hợp.  Nếu Chấn trên Tốn dưới thì sự kết hợp được giải thích theo quẻ Lôi Phong Hằng .  Thoán truyện viết: “Hằng, cửu dã.  Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dự, tốn nhi động, cương nhu giai ứng, hằng. Hằng hanh vô cữu, lợi trinh. .  .  .”  Tạm dịch: hằng, là trường cửu.  Cứng bên trên mà mềm bên dưới, sét gió cùng tham dự, tốn thuộc động, cứng mềm đều đáp ứng, là trường cửu.  Hằng hưởng thụ mà không lỗi, được thỏa lòng lâu dài.  Đại tượng truyện viết: “Lôi phong, hằng. Quân tử dĩ lập bất dịch phương.”  Tạm dịch: lôi phong, là trường cửu.  Quân tử giữ lấy hướng bất dịch.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức để chỉ nhìn từ góc độ giao hưởng tâm lý của một đôi bạn tình thì thoán truyện cũng có thể được lý giải là: rung động đi trước kết hợp với thâm nhập theo sau thì trường cửu, thể hiện rung động ở mặt nổi mà len lỏi thâm nhập ở bề sâu, rung động và thâm nhập đồng tham dự, thâm nhập vốn là động, nên mặt nổi hay bề sâu đều chịu ảnh hưởng, thế là lâu dài.  Hằng hanh thông mà không lỗi, được việc lâu dài.  Và đại tượng truyện cũng có thể được lý giải là: rung động đi trước kết hợp với thâm nhập theo sau là thế lâu dài, người đàn ông biết chuyện nên giữ lấy cái thế lâu dài đó.  

 Quẻ Phong Lôi Ích
  
Ngược lại, nếu Tốn trên Chấn dưới thì sự kết hợp được giải thích theo quẻ Phong Lôi Ích .  Thoán truyện viết: “Ích, tổn thượng ích hạ, dân duyệt vô cương, tự thượng há hạ, kỳ đạo đại quang. . .”  Tạm dịch: ích là hao bên trên lợi bên dưới, dân vui vô ngần, tự trên nhường dưới, ấy con đường sáng rực. . .  Đại tượng truyện viết: “Phong lôi ích, quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải . . .”  Tạm dịch: phong lôi ích, quân tử thấy đúng thì theo, thấy quá đáng thì chỉnh.  Tạm gạt qua một bên những lý giải nghiêng về chính trị, xã hội, đạo đức để chỉ nhìn từ góc độ giao hợp tâm lý của một đôi bạn tình thì thoán truyện của quẻ Phong Lôi Ích cũng có thể lý giải là: thâm nhập đi trước kết hợp với rung động theo sau là có ích, hao để thâm nhập được cái bổ ích của rung động, làm đối tượng vui vô ngần, tự chịu hao trước để được cái ích của rung động đến sau, ấy là con đường rất sáng.  Và đại tượng truyện có thể lý giải là: thâm nhập đi trước kết hợp với rung động theo sau là có ích, người đàn ông biết chuyện thấy tốt thì nghiêng theo, thấy quá đáng thì chỉnh.   
Cả hai quẻ đều mô tả phương cách chinh phục tâm lý của đối phương với hai yếu tố chính là rung động [bề mặt] và thâm nhập [chiều sâu], chỉ khác nhau ở chỗ quẻ Lôi Phong Hằng tạo rung động tâm lý trước để thâm nhập sâu vào tình cảm của đối phương còn quẻ Phong Lôi Ích thì thâm nhập trước vào tâm lý của đối phương để tạo sự rung động tình cảm.  Phái nam có khuynh hướng dễ bộc lộ tình cảm và mãnh liệt hơn trong cách bộc lộ so với phái nữ nên thích hợp hơn với hành trạng Lôi Phong Hằng.  Còn phái nữ kín đáo tế hơn trong tình cảm và tế nhị hơn trong cách bộc lộ cho nên hợp với hành trạng Phong Lôi Ích.  Điều này đúng với quy luật hấp dẫn bạn tình được mô tả trong hình H33, trong đó phái nam thì làm rung động đối tượng nữ còn phái nữ thì thâm nhập đối tượng nam.  Trong khi hai quẻ Lôi Phong Hằng và Phong Lôi Ích cung cấp thông tin “làm thế nào để chinh phục tình cảm đối phương” thì nội dung của đồ hình H33 không những cũng cung cấp thông tin đó mà còn cung cấp thêm thông tin “điều gì làm cho đối phương rung động” hoặc “điều gì có thể thâm nhập vào tình cảm của đối phương.” 
Và nếu vận dụng vào lãnh vực tư vấn tâm sinh lý cho cá nhân thì hai quẻ Lôi Phong Hằng và Phong Lôi Ích nói riêng và mô hình Việt Dịch Đồ nói chung không kém khoa học và không thiếu sự “thông tình đạt lý” phải không?

Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#11)

Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời

trở về: Việt Dịch - bài 10

Bây giờ thì một số ý nghĩa của 8 quái đã được thành lập do đó chúng ta đã có thể quay trở lại với Việt Dịch Đồ để suy nghiệm về nó.  




Nhìn vào hình H28 chúng ta thấy gì?  Có phải chăng nó là một đồ hình mô tả thế giới vi diệu sinh hoá như đã nói?
Xét về mặt thiên nhiên sinh hoá, bên trong vòng đai xanh của Việt Dịch Đồ mô tả chu kỳ sinh hóa của con người qua tám giai đoạn là (1) thụ thai ở Đoài, (2) thai nhi phát triển nhanh ở Ly, (3) thai nhi chiếm đầy bụng mẹ ở Khôn, (4) hài nhi chào đời ở Tốn, (5) thiếu niên háo ăn mau lớn ở Cấn, (6) thanh xuân sung mãn ở Khảm, (7) lập gia đình ở Càn, (8) già nua và chết ở Chấn. 
Từ Tốn tới Chấn [4 -> 8] là một nửa dương của vòng tròn chu kỳ sinh hoá.  Một nửa đó mô tả trạng thái sống động của một đời người.  Từ Chấn tới Tốn [8 à 4] là một nửa âm của vòng tròn chu kỳ sinh hóa.  Một nửa này mô tả trạng thái tiềm ẩn của một đời người.  Chào đời ở Tốn [4] và vĩnh biệt cõi đời ở Chấn [8].  Ra khỏi bụng mẹ [thân mẫu] ở Tốn [4] và trở về bụng mẹ [địa mẫu] ở Chấn [8].  Tử sinh đối đãi.  Tử rồi sinh, sinh rồi tử quay tròn không dứt.  Chết ở Chấn [8] nên không còn thấy mặt ở Đoài [1] và thụ thai cũng ở Đoài [1].  Một sinh mạng cũ chấm dứt ở Chấn [8], một sinh mạng mới bắt đầu ở Đoài [1], chấm dứt và bắt đầu nằm liền nhau trong vòng tròn sinh hoá.  Khởi hiện một sinh mạng mới nơi Đoài [1], vắng mặt một sinh mạng cũ cũng ở Đoài [1].  Nơi khởi hiện và nơi biến mất không hai không khác trong vòng tròn sinh hoá.  
Chồng vợ giao cấu đạt tới khoái cảm tột đỉnh của dục tình trải nghiệm trạng thái rúng động toàn thân nên nói là nổ ra, là chấn động ở Chấn [8].  Tinh trùng gặp trứng mà hoài thai nên nói là hòa duyệt ở Đoài [1].  Bào thai lớn dần thành hình vóc thai nhi tuy có nguyên thần nhưng chưa nảy sinh hay hấp thụ tư tưởng ô nhiễm nên nói là sáng đẹp ở Ly [2].  Sống cùng sự sống của mẹ, theo từng nhịp đập của mẹ nên nói là thuận hòa ở Khôn [3].  Mở mắt chào đời, nhập vào dòng sống với tất cả trong sạch không tranh không chấp nên nói là hoà nhập, nhún nhường ở Tốn [4].  Lớn lên và không thể duy trì được sự ngây thơ hồn nhiên nhưng tánh vẫn thiện nên nói là chững lại [ngưng lại] ở Cấn [5].  Lớn thêm nữa thì đầu óc đã nhồi đầy kiến chấp và toan tính nên nói là thâm hiểm, là thấm đẫm ở Khảm [6].  Lập gia đình, trở thành cha mẹ, lao vào tranh dành miếng cơm manh áo cho gia đình, già dặn với kinh nghiệm và quyết đoán trong hành động nên nói là cương quyết mãnh liệt ở Càn [7].  Trở nên già nua tàn tạ, lý trí có những lúc hoài niệm và tự vấn, tâm thức có những lúc sáng tỏ tỉnh ngộ, rồi nhựa sống khô  kiệt, lúc đang chết trải nghiệm sự rúng động do tứ đại phân rã nên nói là loé sáng, là chấn động ở Chấn [8].  Nơi trải nghiệm sự chấn động của hồn phách xuất ra cũng là nơi trải nghiệm sự chấn động của khoái cảm dục tình cho nên đoạ cũng đó mà siêu cũng đó.   
Chu kỳ sinh hóa của con người có một nửa ẩn một nửa hiện, một nửa thế giới bên trong, một nửa thế giới bên ngoài,  một nửa tịnh một nửa động, một nửa sinh một nửa diệt.  Từ Chấn tới Tốn [8 -> 4] là ẩn, là thế giới bên trong, là tịnh, là sinh.  Từ Tốn tới Chấn [4 -> 8] là hiện, là thế giới bên ngoài, là động, là diệt.  Ẩn là vì không ai thấy và cũng chẳng thấy ai.  Hiện là vì thấy người và người cũng thấy.  Thế giới bên trong là vì còn nằm trong bụng mẹ.  Thế giới bên ngoài vì đã lìa bụng mẹ.  Tịnh là vì lặng lẽ tùy thuộc vào mẹ và nạp khí tiên thiên mà sống.  Động là vì lăng xăng tranh đấu và tùy thuộc vào khí hậu thiên mà nuôi mạng.  Sinh vì từ không mà trở thành có.  Diệt vì từ có mà trở về không. 
Bên ngoài vòng đai xanh của Việt Dịch Đồ mô tả chu kỳ sinh hoá của thiên nhiên qua 8 giai đoạn là (a) biến mất ở Tân, (b) im lìm ở Nhâm, (c) ngủ vùi ở Quý, (d) bừng dậy thập thò ở Giáp, (e) mềm mại mong manh ở Ất, (f) vươn ra lớn mạnh ở Bính, (g) vững chắc đầy đủ ở Đinh, (h) tàn lụi rũ chết ở Canh.   
Nếu nhìn thật kỷ thì 8 giai đoạn sinh hóa của con người và 8 giai đoạn sinh hóa của thiên nhiên có sự liên hệ mật thiết được mô tả trên đồ hình như sau: 

Giai đoạn A = Giai đoạn 1 = Tân -4 Đoài
Giai đoạn B = Giai đoạn 6 = Nhâm +1 Khảm
Giai đoạn C = Giai đoạn 7 = Quý -6 Càn
Giai đoạn D = Giai đoạn 4 = Tốn +3 Giáp
Giai đoạn E = Giai đoạn 5 = Cấn -8 Ất
Giai đoạn F = Giai đoạn 2 = Bính +7 Ly
Giai đoạn G = Giai đoạn 3 = Đinh -2 Khôn
            Giai đoạn H = Giai đoạn 8 = Canh +9 Chấn
           
Thứ tự của những giai đoạn từ 1 -> 8 trong chu kỳ sinh hóa của con người chuyển dịch theo chiều ngược kim đồng hồ.  Thứ tự của những giai đoạn từ A -> H trong chu kỳ sinh hóa của thiên nhiên chuyển dịch theo chiều kim đồng hồ.  Tuy một thuận một nghịch nhưng giữa con người và ngoại giới có một sự tương quan chặt chẽ và đều là thuận hành.    

Vạn vật bừng dậy ở Xuân Mộc khởi động một nửa chu kỳ sống động của vòng sinh hoá.  Cây cỏ mọc mầm, vỡ đất thập thò lú ra ở Giáp [D = Tốn +3 Giáp], mong manh mềm mại ở Ất [E = Cấn -8 Ất].  Con người nhú đầu chui ra khỏi bụng mẹ, hít thở không khí lần đầu nhập vào dòng sống sinh động ở Tốn [4 = Tốn +3 Giáp], mong manh tuổi thơ ở Cấn [5 = Cấn -8 Ất].    

Vạn vật tăng trưởng ở Hạ Hỏa, vươn ra lớn mạnh ở Bính [F = Bính +7 Ly], vững chắc đầy đủ ở Đinh [G = Đinh -2 Khôn].  Con người lớn Khôn chững chạc ở Đông Thủy, động dục ở tuổi thanh xuân nơi Khảm [6 = Nhâm +1 Khảm], lập gia đình và tiêu hao sinh lực ở Càn [7 = Quý -6 Càn]. 

Vạn vật thu liễm và tàn tạ ở Thu Kim.  Cây cỏ già rụng ở Canh [H = Canh +9 Chấn] và tàn lụi biến mất ở Tân [A = Tân -4 Đoài].  Con người cũng cạn cùn sinh lực, chấm dứt sự sống ở Chấn [8 = Canh +9 Chấn] và biến mất ở Đoài [1 = Tân -4 Đoài]. 

Vạn vật quy tàng ở Đông Thủy, im lìm ở Nhâm [B = Nhâm +1 Khảm] ngủ vùi ở Quý [C = Quý -6 Càn].  Con người ẩn náu trong bụng mẹ ở Hạ Hỏa, thai nhi phát triển nhanh ở Ly [2 = Bính +7 Ly], chiếm đầy bụng mẹ ở Khôn [3 = Đinh -2 Khôn].

Chu kỳ sinh hóa của con người và chu kỳ sinh hoá của thiên nhiên vừa đồng vừa dị.  Con người và thiên nhiên vừa cọng hưởng vừa đối lập.  Đồng ở Xuân Thu, dị ở Đông Hạ.  Cọng hưởng ở Giáp Ất, Canh Tân.  Đối lập ở Nhâm Quý, Bính Đinh.  Trong chu kỳ của thiên nhiên sinh hoá, vạn vật quy tàng im lìm ở Càn Khảm.  Trong chu kỳ sinh hoá của con người, thai nhi lớn dần trong bụng mẹ ở Ly Khôn.  Giai đoạn quy tàng trong chu kỳ sinh hóa của thiên nhiên thì vạn vật đi vào đông miên để tiết kiệm năng lượng.  Chu kỳ sinh hóa của con người thì giai đoạn nằm trong bụng mẹ hài nhi tích cực hấp thụ năng lượng để lớn lên.   
Như vậy, toàn thể mô hình Việt Dịch Đồ [hình H28] vừa mô tả chu kỳ sinh hóa của con người [bên trong vòng đai xanh] vừa mô tả chu kỳ sinh hóa của vạn vật [bên ngoài vòng đai xanh] và mô tả sự tương quan giữa chu kỳ sinh hóa của con người với chu kỳ sinh hóa của vạn vật [thông qua những cụm thông tin giống nhau].  

Nếu chúng ta muốn có một vài “dấu ấn” hổ trợ cho tính hợp lý của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người vừa lý giải xong, hãy thử nhìn vào kho tàng y học cổ truyền.  Theo Ths. Bs. Kiều Xuân Dũng, Học Viện Y Dược Học Cổ Truyền Việt Nam, trong cuốn Kinh Dịch Diễn Giảng, do NXB Y Học xuất bản tại Hà Nội năm 2006, trang 37 có viết:
·        2 tháng thai có chất nước hợp với quẻ Đoài; 3 tháng khí dương làm sôi nước hợp với quẻ Ly; 8 tháng da thịt đầy đủ hợp với quẻ Khôn;
·        Hải Thượng Lãng Ông nói: loài người sinh ra ở hội Dần.




Hội Dần chính là chỗ của Giáp +3 Tốn trong hình H28.  Dầu rằng sự sắp xếp tuần tự 8 quẻ cho 9 tháng phát triển của thai nhi trong sách của BS. Kiều Xuân Dũng không trùng khớp với thứ tự các quái trong đồ hình mô tả chu kỳ sinh hoá trong hình H28 hoặc đơn giản hơn là hình H29, nhưng chỉ bằng vào bao nhiêu thông tin y dịch học đó chúng ta cũng đã có thể phối kiểm mức độ trùng khớp giữa tiến trình phát triển của thai nhi [từ giai đoạn thụ thai cho tới giai đoạn sinh ra đời] với đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người.  Những điều được mô tả là “thai có chất nước hợp với quẻ Đoài,” “dương khí làm sôi nước hợp với quẻ Ly,” “da thịt đầy đủ hợp với quẻ Khôn,” “sinh ra ở hội Dần” [Dần = Tốn] chính xác là những thể-dạng-tính-trạng-hành đã được lý giải cho mỗi quái của Hậu Thiên Bát Quái Đồ.  Thứ tự trước sau của Đoài, Ly, Khôn, Dần được mô tả theo thời gian phát triển của thai nhi [dầu rằng có những quẻ khác chen vào đi nữa cũng không làm mất thứ tự trước sau của Đoài, Ly, Khôn, Dần] cũng hoàn toàn phù hợp với thứ tự trước sau của 4 quái Đoài -> Ly -> Khôn -> Tốn trong đồ hình mô tả chu kỳ sinh hoá của con người như trong hình H29 [là Hậu Thiên Bát Quái lấy ra từ Việt Dịch Đồ, bên trong vòng đai xanh, để đơn giản hoá].  Và một khi vị trí của bốn quái Đoài, Ly, Khôn, Tốn được xác định thì 4 quái còn lại cũng đương nhiên được xác định.
Dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, tiến trình phát triển của bào thai từ tuần thứ hai cho đến tuần thứ 8 sau khi thụ tinh là giai đoạn phôi.  Từ tuần thứ 9 trở về sau là giai đoạn phát triển cơ thể của thai, thời kỳ dành hoàn toàn cho sự tăng trưởng và hoàn chỉnh.  Từ sáu tháng về sau, bào thai đã có thể sống bên ngoài bụng mẹ [với sự trợ giúp của y khoa].  Lúc sáu tháng bào thai có chiều dài trung bình từ 25cm đến 30cm và cân nặng khoảng 454g.  Bào thai đặc biệt lớn nhanh vào ba tháng cuối. Thai nhi lên cân nhanh khoảng 900g mỗi tháng và tiếp tục lên cân để trẻ sinh ra bình quân cân nặng từ 2,7kg đến 3,8kg với chiều dài 52,5cm.  Những thông tin này cho thấy ba quái xếp theo thứ tự Đoài, Thủy, Khôn để mô tả tiến trình cấu tạo sinh mạng được hổ trợ bởi bằng chứng khoa học.


Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#10)


Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời

trở về: Việt Dịch - bài 9

Sự khác biệt căn bản giữa hai đồ hình dẫn chúng ta đến câu hỏi là: 4 nguyên tố và 8 nguyên tính đại diện cho những gì trong thế giới sinh hoá vi diệu?  Hay nói một cách khác từ góc độ ngược lại là 4 trục và 8 quái nên được hiểu như thế nào để giúp chúng ta khả dĩ lý giải một cách hợp lý trùng trùng hiện tượng trong thế giới vi diệu sinh hóa?  Cụm chữ “vi diệu sinh hoá” ở đây nên được hiểu là nó bao gồm sinh hoá thiên nhiên và sinh hoá nhân tạo, sinh hoá của ngoại giới và sinh hoá của nội giới, sinh hoá hữu hình và sinh hóa vô hình, sinh hoá đơn giản và sinh hóa phức hợp, sinh hoá trừu tượng và sinh hóa phi trừu tượng, sinh hoá hiện thực và sinh hóa siêu thực, sinh hoá bất dịch và sinh hóa biến/giao dịch.  Dầu là từ ngữ để diễn đạt có khác nhau giữa “vũ trụ vật lý” với “thiên nhiên sinh hoá” và với “thế giới vi diệu sinh hóa” nhưng tất cả đều phải “truy cập tới,” phải “quy về được,” phải “liên kết với” yếu tính tối sơ của tám quái.  Nói một cách khác là tất cả mọi lý giải, đã được hoặc sẽ được lý giải, đều phải khế hợp, nhất quán và xuyên suốt.  Và, như thế, mỗi quái trong Hậu Thiên Bát Quái Đồ có thể hiểu như sau:

Trục không gian Càn-Khôn không phải chỉ là không gian của vũ trụ vật lý mà còn là không gian của thế giới vi diệu sinh hóa.  Thí dụ như người ta nói “thiên khí của Càn giáng xuống, cốc khí của Khôn bốc lên”  hoặc nói “sự sống ngộp ngạt” hay “cảm giác hụt hẫng” đều là ngôn ngữ diễn tả không gian của thế giới vi diệu sinh hoá. 

Trục năng lượng Khảm-Ly không phải chỉ là năng lượng của vũ trụ vật lý mà còn là năng lượng của thế giới vi diệu sinh hóa. Thí dụ như người ta nói “thận hoá hàn, tâm hóa nhiệt” hoặc nói “nhiệt tình với bạn” hay “tình yêu nóng bỏng, tánh nóng, thái độ lạnh lùng” đều là ngôn ngữ diễn tả năng lượng của thế giới vi diệu sinh hoá.        

Trục vật chất vô hình Chấn-Tốn không phải chỉ là vật chất vô hình của vũ trụ vật lý mà còn là vật chất vô hình của thế giới vi diệu sinh hóa.  Thí dụ người ta nói “cốc khí của lá lách, hoả khí của tim, thủy khí của thận” hoặc nói “hồn, phách, vía” hoặc nói “giá trị bản quyền, tài sản vô hình” đều là ngôn ngữ diễn tả vật chất vô hình của thế giới vi diệu sinh hoá.

Trục vật chất hữu hình Đoài-Cấn không phải chỉ là vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý mà còn là tượng vật chất hữu hình của thế giới vi diệu sinh hóa.  Thí dụ có người nói “ngoại hình đẹp, màu sắc quyến rũ” hoặc nói “tiền, chứng khoán” đều là từ ngữ diễn tả vật chất hữu hình của thế giới vi diệu sinh hoá. 

Tuy mỗi quái đại diện cho một yếu tính tối sơ [nguyên tính], tức hữu hạn và bất biến dịch, nhưng thể hiện của thế giới vi diệu sinh hóa đại diện bởi quái đó thì biến dịch và vô hạn.  Lấy quái Càn làm một thí dụ.  Nguyên tính của Càn là không gian dương tính.  Khi triển khai để lý giải ở một tầng thấp hơn thì “không gian dương tính” có nghĩa là  “không gian mở” là “trống rỗng, thông thoáng” là “có thể chứa đựng”  là “có thể làm giảm áp suất.”  Những từ vựng này được thiết lập rõ ràng và có giới hạn để mô tả không gian dương tính.  Nhưng, theo đó những thể hiện của thế giới vi diệu sinh hoá đại diện bởi không gian dương tính không chỉ là “không gian” mà còn là “bất cứ thứ gì” [vạn vật] từ những từ vựng được thiết lập “rõ ràng và có giới hạn” đó  sinh hoá ra.  Hay nói một cách giản dị hơn là khi thấy những lý giải như là cha, là người lãnh đạo, là thể chế dân chủ, là tánh si xuất hiện dưới “cái dù” của quái Càn không gian dương tính thì đừng vội cho là vô lý chỉ vì đơn giản bám vào khái niệm Càn là không gian còn cha, người lãnh đạo, thể chế, hoặc tánh si thì không phải là không gian.  Hay nói một cách khác nữa, để lý giải thế giới vi diệu sinh hoá, tám quái nên được hiểu như sau:

CÀN là tượng không gian dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “không gian dương tính” có nghĩa là “không gian mở,” là “trống rỗng, thông thoáng,” là “có thể chứa đựng,” là “có thể làm giảm áp suất,” là “có thể che.” Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý.  Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, Càn:
·        không những là không gian mở, là không gian thông thoáng mà còn là thể chế tự do, là chế độ dân chủ, là xã hội đa nguyên, là nhà nước pháp trị, là kinh tế thị trường, là cơ chế phân quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người];
·        không những là mở, là thông thoáng mà còn là tự do, là dân chủ, là đa nguyên, là đa chiều, là pháp trị, là phân quyền, là tản quyền, là minh bạch;
·        không những là mở, là thông thoáng mà còn là thế giới bên ngoài, là ý chí cao xa, là hay lo việc lớn, là bày tỏ, là hiển lộ;
·        không những là rộng, là thông thoáng mà khi rộng và thông thoáng nhưng không thấy rõ thì thành là mông lung, là mất định hướng, là lạc lối, là si, là yêu [ái là bản chất của tánh si];
·        không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực tâm lý, là làm giảm sự ngộp ngạt tù túng tâm lý, là thoát ra bên ngoài, là hướng ngoại, là làm việc bên ngoài;
·        không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực sinh lý, là trược tinh tẩu lậu [tinh khí thoát ra ngoài], là lập gia đình;
·        không những là có thể chứa đựng mà còn là bao dung, là mở vòng tay để đón người, là tâm rộng lượng, là lòng quảng đại, là quân tử;
·        không những là che mà còn là hứng lấy áp lực, là tàng cây, là dù, là lộng, là cha, là chồng, là người lãnh đạo, là cái đầu, là người trên, là xếp, là chính quyền.  

KHÔN là tượng không gian âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “không gian âm tính” có nghĩa là “không gian đóng,” là “khép kín, chắn,” là “đã chiếm dụng, không chứa thêm,” là “có thể nâng đỡ, chở,” là “có thể làm tăng áp suất.” Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý.  Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, Khôn:
·        không những là không gian đóng, là không gian khép kín mà còn là hệ thống đóng, là hệ thống khép kín, là thể chế độc tài, là chế độ áp bức, là xã hội thiếu tự do, là nhà nước khống trị, là kinh tế trung ương quy hoạch, là cơ chế tập quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người];
·        không những là đóng, là khép kín mà còn là thiếu tự do, là phi dân chủ, là đơn cực, là độc tôn, là áp bức, là độc tài, là khống trị, là tập quyền, là bịt kín thông tin, là che dấu sự thật, là chèn ép dân, là chuyên quyền, là độc đoán;
·        không những là không gian khép kín mà còn có nghĩa là thế giới bên trong, là thế giới gia đình, là thế giới nội tâm, là thế giới âm thầm chịu đựng, thế giới thần bí, thế giới cô độc, thế giới cô đơn;
·        không những là khép kín mà còn là âm thầm, là câm nín, là giấu giếm, là kín đáo, là giữ trong  lòng, là sự bảo mật, là cái bụng;
·        không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực tâm lý, là nhẫn nhục, là thuận tùng, là chiều lòn, là cam chịu, là làm vợ, là làm dân, là người tiêu thụ, là người cấp dưới;
·        không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực sinh lý, là giai đoạn thai to bụng nặng, là lao động  quá sức;
·        không những là làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực xã hội là áp chế, là cai trị, là cưỡng bách, là bắt phải làm theo, là bắt phải phục tùng, là đàn áp, là vi phạm nhân quyền, là sách nhiễu;
·        không những là nâng đỡ, là chở mà còn là làm mẹ, là vượt biển [sinh con], là chiếc bè chở con qua bể khổ, là sự hy sinh trọn vẹn cho con và chồng, là tình thương không bến bờ dành cho con, là niềm vui [lạc], là thức thần [thức thần là chủ của vui, của tham];
·        không những là nâng đỡ mà còn là nâng đỡ sự sống, là nuôi sống, là thị trường, là nơi giao dịch mua bán, là cơ quan tạo cốc khí nuôi thân, là lá lách, là ứng vào thịt, là hóa thấp;
·        không những là đã chiếm dụng mà còn là đã làm đầy, là đã chứa hết, là không còn chỗ trống, là giai đoạn thai nhi chiếm đầy bụng mẹ sẵn sàng chào đời;
·        không những là không chỗ để chứa thêm mà còn là tâm hẹp hòi [tâm địa hẹp hòi], là óc bảo thủ, là ngoan cố;
·        không những là chắn mà còn là thành lũy, là ngăn chận hiểm họa, là đón ngừa biến cố, là liệu phòng đói no, là tích lũy tài sản, là lo xa nhưng khi tích lũy mà tới chỗ thái quá thì thành ra là bỏn sẻn, là tham lam và khi lo xa tới chỗ thái quá thì thành ra là ích kỷ, là tiểu nhơn.

LY là tượng năng lượng dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “năng lượng dương tính” có nghĩa là “nóng, tỏa sáng, cháy bùng, nhiệt độ cao hơn nhiệt độ của môi trường, bốc lên, có thể làm tăng nhiệt, có thể hóa nhiệt, có thể đốt cháy.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý.  Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng tiêu thụ và thể hiện, của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, Ly:
·        không những là năng lượng dương tính mà còn là sinh lực dương tính, là sức sống thể hiện, là giai đoạn thai nhi lớn nhanh trong bụng mẹ, là giai đoạn con gái lớn nhanh trong vòng tay mẹ, là giai đoạn trước khi làm mẹ, là trung nữ, là con gái giữa, là hậu bối bên mẹ, là tánh khí sôi nổi, là sự hưng phấn, là bồng bột, là nhiệt tình, là hăng hái, là chân tình, là hiến dâng, là con tim, là tạng tâm;
·        không những là năng lượng dương tính mà còn là năng lượng thanh nhẹ, là nguyên thần, là lễ nghi [nguyên thần là gốc của của lễ nghi, nhiệt tình];
·        không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là nhan sắc đẹp sáng, là phong cách nóng bỏng, là gợi cảm, là hấp dẫn, là quyến rũ;
·        không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là mặt trời, là đèn, là những vật thể phát sáng, là mắt;
·        không những là nóng mà còn là nóng tính, là cộc cằn;
·        không những là nóng, là có thể hóa nhiệt mà còn là bị bệnh nhiệt, bị bệnh cuồng;
·        không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sát phạt, là tranh đoạt, là tranh dành, là tranh thủ, là chiếm lĩnh, là thu tóm;
·        không những là năng lượng sát phạt mà còn là năng lượng hủy diệt là súng, là đạn, là bom, là đầu đạn nguyên tử, là chiến tranh;
·        không những là năng lượng sát phạt và hủy diệt mà còn là năng lượng tiêu thụ, là tiêu thụ, là mua sắm, là xài, là dùng, là nhu cầu;
·        không những là lửa, là nóng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lửa, là nóng theo qui ước xã hội, là vùng nóng (hot zone), là vùng chiến, và hỏa lực (fire power), là vũ khí (fire-arm). 

KHẢM là tượng năng lượng âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì  “năng lượng âm tính” có nghĩa là “lạnh, trầm xuống, chảy tràn vào chỗ thấp, rung chuyển khi bên ngoài xúc chạm vào, tối tăm, nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của môi trường, có thể làm giảm nhiệt, có thể hóa hàn, có thể làm đông lạnh, có thể làm tắt.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý.  Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng sáng tạo và tiềm phục, của thế giới vi diệu sinh hóa.  Do đó, Khảm:
·        không những là năng lượng âm tính mà còn là sinh lực âm tính, là sức sống tàng ẩn, là nguyên tinh, là tinh trùng, là mầm trong hạt, là ngòi sống của chu kỳ kế tiếp, là quả thận;
·        không những là năng lượng âm tính, là tính rung chuyển khi có vật ngoài xúc chạm mà còn là động dục, là năng lượng nặng trược, là năng lượng nhục dục, là giai đoạn thanh xuân trước khi lập gia đình, là giai đoạn sung mãn dục tình, là dục tình;
·        không những thấm xuống, là chảy tràn vào chỗ thấp mà còn là nước, là dòng chảy;
·        không những là nhiệt độ thấp, là có thể làm cho tắt lửa nóng mà còn là “sắc đẹp thủy tinh,” là “nhan sắc nõn giá,” là thuần khiết;
·        không những là lạnh mà còn là tánh khí trầm lặng, là lãnh đạm, là hờ hững, là thờ ơ, là phong cách lạnh lùng;
·        không những là lạnh, là có thể hóa hàn mà còn là bị bệnh trầm cảm, là bị bệnh hàn;
·        không những là năng lượng âm tính, là tối tăm mà còn là thâm hiểm, là ưu lự, là toan tính, là bày mưu, là nghĩ kế, là trí, là mưu trí, là làm kế hoạch, là đưa ra quyết sách, là thâm sâu, là cái vực, là uyên, là hiểu biết đến cùng cực, là lãm;
·        không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sáng tạo, là sáng tác, là sáng chế, là tạo ra cái mới, là sản xuất;
·        không những là năng lượng sáng tạo mà còn là năng lượng tái tạo, là phục hồi, là phục sinh, là phục hoạt, là làm cho sống lại;
·        không những là năng lượng tái tạo mà còn là năng lượng đáp ứng, là cung, là cung cấp dịch vụ, là phân phối hàng hóa, là bán ra thị trường; 
·        Khảm vừa nằm ở giai đoạn trước khi làm cha vừa nằm cạnh vị trí của cha vừa đối lập với vị trí trung nữ cho nên là trung nam, là con trai giữa, là hậu bối bên cha;

CẤN là tượng vật chất hữu hình dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất hữu hình dương tính” có nghĩa là “đặc, cứng, ngưng kết, làm cho vững vàng, làm cho nặng hơn.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất hữu hình trong thế giới sống.  Do đó, Cấn:
·        không những là đặc, là cứng mà còn là thô, là xốp, là vật liệu lấy ra từ quặng mõ, là nguyên liệu, là chưa tinh chế, là chưa mài giũa, là chưa hữu dụng, là chưa thành nhân;
·        không những là cứng mà còn là cứng cáp, là vươn lên, là ngóc lên, là trổ mã, là dậy thì, là đứng sừng sững, là núi đồi, là trụ cột, là tháp, là chầy, là cán, là vật để cắm vào, là dương vật, là người nam;
·        không những là vật chất hữu hình trong ý nghĩa vật lý mà còn là vật chất hữu hình theo qui ước xã hội, là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản;
·        không những là cứng trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính cứng vật lý] mà còn là cứng theo qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính cứng qui ước], là tài sản cứng (hard assets), là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares);
·        không những là cứng trong ý nghĩa vật lý mà còn là cứng trong thái độ hay trong quyết sách, là thẳng tay trừng trị, là đánh trực diện, là không kiêng nể, là nhổ tận gốc, là tiêu diệt, là không nhượng bộ;
·        không những là ngưng kết mà còn là dừng lại, là chựng lại, là khựng lại, là đậu lại, là chựng lại sự hồn nhiên, là không còn vâng lời cha mẹ, là ương ngạnh, là giai đoạn hướng ngoại, là giai đoạn định hình cá tính, là hình thành kiến chấp;
·        không những là ngưng kết của vật chất mà còn là ngưng đọng của vị, là nếm;
·        không những là ngưng, là chựng mà còn là trì trệ, là đình hoãn, là đình chỉ, là bị ngăn trở, là bị chận đứng, là chưa thể tiến hành, là cần giải tỏa, là đình công;
·        không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho nặng hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là chân tình, là tánh thiện, là mừng [hỉ], là du hồn [du hồn là chủ của mừng];
·        không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm nặng [tăng] áp lực cho xã hội, còn là làm nặng nề hơn tình hình đôi co giữa hai thế lực, là chống đối, là phản kháng, là đấu tranh, là đối đầu, là đối kháng, là chống cự, là biểu tình, là xuống đường;
·        không những là nặng, là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho chìm, là làm cho đắm, là làm cho sụp, là làm cho bị chôn vùi, là rớt xuống, là chìm, là suy thoái, là rớt vào khủng hoảng;
·        vừa nằm ở giai đoạn trước khi thành trung nam vừa nằm gần cha cho nên là giai đoạn thiếu niên, là thiếu nam, là con trai út, là tiểu bối bên cha.

ĐOÀI là tượng vật chất hữu hình âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất hữu hình âm tính” có nghĩa là “mềm, lỏng, nhỏ, có thể bốc hơi, làm cho nhẹ hơn.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của cả vật chất hữu hình trong thế giới sống.  Do đó, Đoài:
·        không những là mềm, là lỏng mà còn là nơi mềm lỏng tụ hội, là ao đầm, là bọc nước chứa thai nhi, là giai đoạn thụ thai, là trứng, là âm hộ, là miệng, là vật ngậm lấy, là người nữ;
·        không những là mềm, là lỏng mà còn trạng thái mềm lỏng hòa vào nhau, là nhuyễn, là sệt, là dễ thẩm thấu, là dễ nắn, là chất bùn, là chất bã, là cream, là lotion, là gel, là paste, là thức ăn nhuyễn, là ruột non, là ruột già;
·        không những là mềm mà còn là dẻo, là dễ cột, là dây, là sợi, là chỉ, là tóc, là trói, là buộc;
·        không những là mềm trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính mềm vật lý] mà còn là mềm trong ý nghĩa định tính do qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính mềm qui ước], là phần mềm (software), là tiền tệ (soft power), là chứng khoán, là tài sản mềm (soft assets), là công sức lao động, là kiến thức, là trình độ, là kỹ năng nghề nghiệp, là kinh nghiệm làm việc; 
·        không những lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng trong ý nghĩa định tính theo qui ước xã hội, là sự lưu hoạt của tiền tệ (credit liquidity), là sự lưu hoạt của chứng khoán (security liquidity), là có thể biến thành tiền, là chuyển đổi thành tiền;
·        không những là lỏng mà còn là làm cho nổi lên, là làm cho đi lên, là làm cho thoát khỏi suy thoái, là ra khỏi khủng hoảng, là đi lên, là kinh tế phục hồi;
·        không những là lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng lẻo trong quy củ và sự vận hành, là nới lỏng kiểm soát, là bớt siết chặt ngân sách, là bơm thêm dự trữ trong chính sách tiền tệ, là hạ lãi suất, là giảm bớt yêu cầu;
·        không những là nhỏ mà còn là vi tế, là tinh vi, là khéo léo, là biến hóa không chừng, là mầu nhiệm, là diệu, là vi diệu;
·        không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn áp lực tâm lý, là hòa duyệt, là cùng nhịp, là không trái ý nhau, là không thái quá, là không bất cập, là đẹp lòng, là ưa thích;
·        không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ áp lực cho xã hội, là làm cho tình hình giữa hai thế lực đang đôi co bớt căng thẳng, là đàm phán, là điều đình, là thương lượng, là thương thuyết, là hòa giải, là xét xử, là giải quyết, là thông qua, là biểu quyết xong, là có thể tiến hành, là lưu thông, là luân chuyển, là ký kết, là hợp đồng;
·        không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là giận dữ, là phẫn nộ, là tánh hung, là quỷ phách [quỷ phách là chủ của hung, của nộ];
·        vừa nằm ở  giai đoạn trước khi thành trung nữ vừa nằm gần mẹ cho nên là giai đoạn của thiếu nữ, là thiếu nữ, là con gái út, là tiểu bối bên mẹ.   

CHẤN là tượng vật chất vô hình dương tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất vô hình dương tính” có nghĩa là “quang khí, ánh chớp, lóe sáng, làm cho hóa quang, làm cho nổ.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống.  Do đó, Chấn:
·        không phải chỉ là làm cho nổ mà còn là làm cho chấn động, là trạng thái lúc đạt tới tột đỉnh khoái cảm và xuất tinh, là trạng thái của tứ đại phân rã lúc chết, là chết, là rơi rụng, là chấm dứt;
·        không phải chỉ là chấn động mà còn là rung động, là phập phều, là phồng ra thóp vào, là phồng lên xẹp xuống, là mũi, là phổi, là tạng phế, là hóa táo, là ứng vào da; 
·        không phải chỉ là chấn động mà còn là phập phồng, là hồi hộp, là run rẩy, là co giật, là nẩy giật, là co thắt của cơ bắp;
·        không phải chỉ làm chấn động ra trong ý nghĩa vật lý mà còn là chấn động trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tai tiếng, là tiếng đồn, là nổ ra những sự kiện ô nhục, là xì-căn-đăng;
·        không phải chỉ là làm cho nổ trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho nổ ra trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tố cáo, là tố giác, là bôi nhọ công khai, là gây ra hiểu lầm; 
·        không phải chỉ là lóe sáng mà còn là sự bừng tỉnh của tâm thức, sự phản tỉnh của thái độ, sự xét lại của tư duy, sự hồi tưởng, sự hoài niệm, là giai đoạn già lão, là tàn phai, là héo úa, là lão hóa;
·        không phải chỉ là hóa quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là trải nghiệm lúc hồn phách thoát ra, là trở về cõi sáng, là tiếp điển, là nhận lấy điển quang;
·        không phải chỉ hoá quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho thấy trong ý nghĩa dư luận xã hội, là giải thích, là biện minh, là trưng ra bằng chứng;
·        không phải chỉ là ánh chớp mà còn là thần tốc, là tốc độ, là thật nhanh chóng;
·        không phải chỉ là quang khí trong ý nghĩa vật lý mà còn là quang khí trong tánh cách của con người, là uy nghi, là can liệt, là nghĩa khí, là nguyên tình [nguyên tình là gốc của uy nghi, can liệt, nghĩa khí];
·        nằm ở giai đoạn già lão lại nằm sau giai đoạn làm cha và cạnh cha nên là lão nam, là trưởng nam, là trưởng bối bên cha.

TỐN là tượng vật chất vô hình âm tính.  Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất vô hình âm tính” có nghĩa là “không khí, từ trường, hoá âm, làm cho phát ra âm thanh, làm cho nghe tiếng.”  Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý.  Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống.  Do đó, Tốn:
·        không những là vật chất vô hình vật lý mà còn là vật chất vô hình theo qui ước xã hội, là tài sản vô hình (intangible asset),  là bản quyền (copyright), là thương hiệu (name brand), là giá trị của thương hiệu (goodwill);
·        không những là từ trường mà còn là sức hút của trái đất, là trọng lực, là nam châm, là từ hóa, là làm cho có từ trường, là từ trường của vật thể,
·        không những là từ trường vật lý mà còn là từ trường của con người, là sức thu hút, là sức hấp dẫn [không do nhan sắc như ở Ly];
·        không những là không khí mà còn là gió, là nhập vào, là len vào, là thâm nhập, là len lén, là nhè nhẹ, là rụt rè, là thập thò, là e lệ, là nhún nhường, là bâng khuâng, là lãng đãng, là dìu dịu, là bềnh bồng, là quấn quít, là ngây ngất, là choáng váng là vấn vương, là nhớ nhung;
·        không những là không khí, là gió mà còn là hơi thở, là mây trời, là phiêu bồng, là lan tỏa, là bay, là lay động, là mềm mại, là mỏng manh;
·        không những là không khí, là hơi thở, là nhập vào mà còn là hơi thở đầu đời nhập vào dòng sống, là chào đời, là nứt mộng, là đâm chồi, là nhú ra, là lú ra, là giai đoạn sơ sinh, là vô tư, là ngây thơ, là nhân hậu, là nhu hòa, là nguyên tánh [nguyên tánh là gốc của nhu hoà, nhân hậu], là tạng can;
·        không những là âm thanh, là làm phát ra âm thanh mà còn là tiếng nói, là nhạc, là dư luận, là truyền thông, là phát sóng, là truyền tải thông tin, là tuyên truyền;
·        không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy ước muốn, làm cho nghe thấy ý kiến, là đệ đạt nguyện vọng, là đề nghị yêu sách, là trình bày ý kiến, là đưa ra quan điểm, là thố lộ ý nghĩ, là tiết lộ nội tâm, là tâm sự với người khác;
·        không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy sự thật, là bàn bạc, là hội thảo, là nghiên cứu, là điều tra, là tường trình, là báo cáo, là phản hồi tin tức;
·        Tốn nằm sau Khôn vừa đối lập với Chấn tức là vừa nằm sau giai đoạn làm mẹ, vừa nằm cạnh mẹ, vừa nằm ở vị trí đối lập với  lão nam, trưởng nam nên là lão nữ, là trưởng nữ, là trưởng bối bên mẹ.
 
  
tiếp theo: Việt Dịch - bài 11