GIẢI MÃ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐỂ PHỤC
DỰNG SẢN PHẨM VĂN HÓA PHI VẬT THỂ: MỘT CON ĐƯỜNG TÁI HIỆN DIỆN MẠO VÀ CỘI NGUỒN
ĐÍCH THỰC CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT.
“Điều mà mỗi người và mọi người có thể làm được
là đừng vội phủ nhận những chấm nhỏ đó và cũng đừng vội phủ nhận phương pháp giải
mã di sản văn hóa phi vật thể để phục dựng sản phẩm văn hóa phi vật thể trong nỗ
lực tái hiện lại bức tranh diện mạo và cội nguồn đích thực của nền văn hóa Việt. Dưới điều kiện khắc nghiệt của địa dư và lịch
sử làm cho những chứng tích vật thể mong manh khó có thể tồn tại, con đường phục
dựng sản phẩm văn hóa phi vật thể từ di sản văn hóa phi vật thể có lẽ là con đường
không thiếu khôn ngoan. Mỗi công trình
có thể chỉ là một con kiến tí ti trong con mắt của những khoa học gia chính thống
và dễ dàng bị cho “chìm xuồng” nhưng một khi số lượng kiến đã có thể kết nối
nhau thành một bè kiến chuyên chở nổi sự thật về cội nguồn văn hóa Việt thì lúc
đó kiến sẽ không còn là kiến. “
trở lại: Giải Mã Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể . . . Bài 7
Bạch
Thư Trong Mộ Hán Mã Vương Đôi & Trúc Giản Trong Mộ Sở Kinh Môn Quách Điếm:
Bằng Chứng Củng Cố Giá Trị Của Sản Phẩm Được Phục Dựng Và Của Phương Pháp Giải
Mã Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
Trong bài Nghiên Cứu Trong Thế Kĩ XX Về Lịch Sử Tư Tường Của Trung Quốc
của ông Trương Hải Yến (张海燕), Sở Nghiên Cứu Lịch Sử thuộc
Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, đăng trong tạp chí Trung Quốc Sử Nghiên Cứu
Động Thái (中国史研究动态) số 1/2002, tr. 5-15, do học giả
Nguyễn Tấn Cường dịch chú, đã viết:
“‘Ngũ
hành’ của Nho gia là trỏ ‘nhân, nghĩa, lễ, trí, thánh.’ Tuân Tử - [313TCN –
238TCN, trong thiên] Phi Thập Nhị Tử, cho
rằng học trò của Tử Tư [tức Khổng Cấp, cháu nội của Không Tử] và Mạnh Tử [372TCN - 289TCN] ‘theo thời xưa mà tạo thuyết gọi là ngũ hành.’
Cái ‘ngũ hành’ này ‘Dương Cạnh (杨倞) đời nhà Đường
[618CN - 907CN] chú rằng: ‘Ngũ Hành tức
Ngũ Thường, là: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín’.”
Vào
năm 1973, một ngôi mộ Hán [206TCN - 220CN] tại Mã Vương Đôi được khai quật, người
ta tìm thấy trong số bạch thư có quyển Lão Tử giáp bản (bản A) và ở phần sau của
quyển sách đó có một thiên giảng về “Nhân, Nghĩa, lễ, Trí, Thánh.” Đầu thiên bị khuyết mất và các học giả đặt tên
cho thiên đó là thiên Ngũ Hành.
Rồi
năm 1993, người ta lại khai quật một ngôi mộ Sở [1030TCN – 223TCN] tại Kinh Môn
Quách Điếm và tìm thấy trong số trúc giản có một thiên giản thư [sách viết trên
thẻ] có tên là Ngũ Hành. Nó có nội dung
tương tự như thiên Ngũ Hành trong bạch thư tìm được trong ngôi mộ Hán ở Mã Vương
Đôi, tức là nói về “nhân, nghĩa, lễ, trí, thánh.”
Theo
GS Nguyễn Hữu Quang thì “tác giả của bộ
sách này [bạch thư Mã Vương Đôi]
không ai khác hơn là Thầy Tử Tư, cháu đích tôn của Đức Khổng Phu Tử và Thế Tử
là một nhân vật thời Chiến Quốc mà cho đến hôm nay cũng chưa ai biết được danh
tính và lai lịch” (Nguồn: Hán Việt Dịch Sử Lược, Chương 3 - Thiên Văn Lịch
Toán).
Từ
những thông tin trên chúng ta có thể xác định được một vài điều: (1) Ngũ Thường
của Nho Gia thời Chiến Quốc là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh. Đến đời Đường (và có thể sớm hơn) đã biến ra
thành Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. (2) Ngũ
Hành và Ngũ Thường có sự liên quan mật thiết.
Và (3) Ngũ Hành thời Chiến Quốc là mô phỏng theo “thời xưa.” Nói một cách khác, là thuyết Ngũ Hành đã có
trước thời Chiến Quốc rất lâu (vì trước rất lâu nên mới gọi là thời xưa).
Ngày
hôm nay nếu chúng ta vào Google gỏ “nhân, nghĩa, lễ, trí, thánh” để truy tìm thì
chúng ta sẽ được vỏn vẹn 4 kết quả.
Trong khi đó nếu gỏ vào “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” thì chúng ta sẽ nhận
được 630 ngàn kết quả. Điều này cho thấy
hình như ít có người quan tâm đến sự khác biệt giữa Ngũ Thường thời Chiến Quốc
so với Ngũ Thường từ đời Đường trở về sau này.
Nhưng sự khác biệt này là một phát hiện quan trọng, ít ra là đối với mạch
Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy và với nguồn gốc văn hóa Việt.
Quan
trọng như thế nào? Trước hết chúng ta hãy
nhìn vào hình P6 mô tả sự tương quan giữa Ngũ Thường và Ngũ Hành ở hai thời điểm,
thời Chiến Quốc và thời Đường.
Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là 5 đặc tính “đồng đẳng” làm nên nhân cách của một mẫu người
lý tưởng gọi là “quân tử” trong học thuyết của Nho Gia Phổ Cập từ thời Đường trở
về sau. Ngũ Thường Phổ Cập này tương ứng
với Lý Thuyết Ngũ Hành Phổ Cập, trong đó Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là 5 vật chất
“đồng đẳng cấp.” Sự tương ứng này cho thấy
trong hình P6, một nửa bên dưới.

Nhân, Nghĩa, Lễ,
Trí, Thánh là 5 đặc tính “không đồng đẳng cấp” trong mô hình Ngũ Thường Nguyên
Thủy (vào thời Chiến Quốc trở về trước).
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí là 4 đặc tính của người quân tử đúng với nguyên tác"Quân
tử sở tính Nhân nghĩa lễ trí" của Nho Giáo Nguyên Thủy. Bốn phẩm chất này (nằm ở vòng ngoài) làm nên
nhân cách của một con người toàn vẹn để rồi từ sự toàn vẹn đó có thể bước vào vị
trí Thánh (nằm ở trung tâm). Thánh là một
đặc tính vượt trên hẳn những đặc tính làm nên nhân cách toàn vẹn của một con người
bình thường. Ngũ Thường Nguyên Thủy tương
ứng với Lý Ngũ Hành Nguyên Thủy, trong đó Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là 5 hành “không
đồng đẳng cấp.” Thổ là một hành quan trọng
hơn vì nó chi phối và điều hợp bốn hành còn lại và nó nằm vào vị trí trung ương. Hình P6, một nửa phía trên, cho thấy sự tương
ứng giữa Ngũ Thường Nguyên Thủy với Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy.
Nhân, Nghĩa, Lễ,
Trí, Thánh của Ngũ Thường Nguyên Thủy còn cho thấy một điều quan trọng khác trong
học thuyết Nho Giáo Nguyên Thủy. Đó là, Đức
Khổng Phu Tử muốn dẫn dắt con người “về đến chỗ trọn NGƯỜI, đạt đến chỗ THÁNH”
hay nói một cách khác là từ Người tới Thánh, chứ không phải để nặn ra một mẫu
người “quân tử “ sặc mùi chính trị “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.” NGƯỜI và THÁNH trong Nho Giáo Nguyên Thủy hoàn
toàn khế hợp với minh triết của Việt Dịch.
Nói về minh triết của Dịch Việt, HHQ đã ghi trong Việt Dịch như sau:
“Việt Dịch Đồ dưới
lăng kính minh triết: Vòng ngoài là chỗ của nhiều còn tâm trung là nơi của một. Vòng ngoài là trú xứ của sinh sinh hoá hóa
còn tâm trung là trú xứ của diệu diệu huyền huyền. Từ tâm đi ra ngoài là hướng ngoại, từ ngoài
trở về tâm là hướng nội. Từ tâm đi ra
ngoài là con đường của nhơn dục còn từ ngoài trở về tâm là con đường của thiên
lý. Hướng ngoại để có nhiều, hướng nội để giữ một. Theo nhiều là lý do của điên đảo, quay cuồng. Giữ một là cái gốc của thường tịnh lặng lẽ. Tâm trung là đền Thánh của đức Thổ, nhơn sanh
tiến vào đền Thánh lễ bái không ngoài một chữ Tín. Vòng ngoài là nhà lửa của tam giới, lìa bỏ đền
thánh để chui vào nhà lửa vui đùa không ngoài một chữ dục của vọng ý.
Việt Dịch Đồ dưới
lăng kính minh triết: Tâm trung là chỗ để giữ đạo tam tòng: tòng thiên, tòng địa
và tòng nhân. Vòng ngoài là chỗ để giới
trì tứ đức: đức Nhân của Mộc, đức Nghĩa của Kim, đức Trí của Thủy, đức Lễ của Hỏa. Thế nào là giữ đạo tam tòng? Trời vốn ‘dĩ dị tri’ đất vốn ‘dĩ giản năng.’ Mà giản dị thì ‘dị tắc dị tri, giản tắc dị
tòng’ dễ biết dễ
theo. Một khi đã dễ biết dễ theo thì có
lắm người biết nhiều người theo do đó mà thành tựu công nghiệp lớn ‘dị tri tắc
hữu thân, dị tòng tắc hữu công, hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại, khả
cửu tắc hiền nhân chi đức, khả đại tắc hiền nhân chi nghiệp.’ Nắm được đạo lý giản dị là nắm được đạo lý
trong thiên hạ. Đã nắm được đạo lý trong
thiên hạ thì đứng giữa cùng với trời và đất ‘dị giản nhi thiên hạ chi lí đắc
hĩ, thiên hạ chi lý đắc nhi thành vị hồ kì trung hĩ.’ Đứng chung được với trời đất tức là đã giữ đạo
tam tòng. Thế nào là giới trì tứ đức? Trời đất không có tư tâm, thánh nhân không có
tư tâm, cho nên mới nói trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm, thánh nhân bất
nhân coi bá tánh như chó rơm, ‘thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu, thánh
nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.’ Trời đất hành sự chẳng vì mình cũng chẳng vì
ai. Thánh nhân hành sự chẳng vì mình
cũng chẳng vì ai. Hành sự chẳng vì mình
cũng chẳng vì ai chánh thật là giới trì.
Ở giữa thiên hạ, lấy thiên hạ làm lòng mình, coi hết thảy như trẻ thơ, ‘tại
thiên hạ, hấp hấp vị thiên hạ hỗn kỳ tâm, thánh nhân dai hài nhi,’ đó chánh thật là
đức Nhân. Lấy đạo giúp cho người lãnh đạo,
không lấy bạo quyền cưỡng bức thiên hạ, ‘dĩ đạo tá nhân chủ dả, bất dĩ binh cường
thiên hạ,’ giữ cái vô danh mộc mạc để trí vô dục, tâm yên tịnh, thiên hạ được
bình yên ‘dĩ vô danh chi phác, vô danh chi phác phù diệc tương vô dục, bất dục
chi tỉnh, thiên hạ tương tự định,’ đó mới chánh thật
là đức Nghĩa. Không can thiệp dân sẽ tự
nhiên vô tư, không áp bức dân sẽ tự nhiên ngay thẳng, không bày vẽ dân sẽ tự
nhiên giàu có, không tham lam dân sẽ tự nhiên thật thà, ‘ngã vô vi nhi dân tự
hóa, ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nghi dân tự phú, ngã vô dục nhi
dân tự phác,’ cho nên lấy ngay
thẳng mà trị quốc, lấy vô sự mà giữ yên thiên hạ, ‘dĩ chính trị quốc . . . dĩ
vô sự thủ thiên hạ,’ giúp dân từ bỏ
cái quá độ để quay về với tự nhiên, ‘phục chúng nhân chi sở quá, dĩ phụ vạn vật
chi tự nhiên,’ lấy thấp làm nền,
lấy hèn là gốc ‘dĩ tiện vi bản, dĩ hạ vi cơ’ để ngồi trên mà dân không thấy nặng,
ở trước mà dân không thấy ngại, ‘xử thượng nhi dân bất trọng, xử tiền nhi dân bất
hại,’ đó mới chánh thật
là đức Lễ. Biết đủ không nhục, biết ngừng
không nguy, được cái lâu bền, ‘tri túc bất nhục, tri chỉ bất đải, khả dĩ trường
cửu,’ làm trọn vẹn mà
dường như dở dang nhưng dùng mãi chẳng hư, có đầy đủ mà dường như trống rỗng
nhưng dùng mãi không hết, rất ngay thẳng mà như cong, rất hay mà như dở, rất
hùng biện mà như ấp úng, ‘đại thành nhược khuyết kỳ dung bất lệ, đại doanh nhược
xung kỳ dụng bất cùng, đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược
nột,’ không ra cửa mà biết khắp thiên hạ, thấy rõ đạo
trời, ‘bất xuất hạ tri thiên hạ, bất khuy dũ kiến thiên đạo’ quay về gốc tịnh,
phục mệnh thường hằng, ‘chí hư cực . . . phục mệnh viết hằng’ đó mới chánh thật
là đức Trí. Ở chỗ điên đảo, quay cuồng
mà vẫn ung dung tự tại là nhờ trong không xa đạo tam tòng ngoài không lìa giới
trì tứ đức. Giữ đạo tam tòng, giới trì tứ
đức là cung cách của hiền thánh.
Việt Dịch Đồ dưới
lăng kính minh triết: Tâm trung là trái tim nguyên thể và vô nhiễm. Vòng ngoài là nơi đã làm cho máu của Đức Chúa
chảy ra. Ngài ‘có khả năng chuyển hóa,
đem tù hãm tối tăm, đốt tan trong ánh sáng, những nghiêng lệch tạm thời, bỗng
chốc về đúng chỗ, trời người đất dung thông, thế giới hoát đại đồng, thiêng
liêng và huyền nhiệm’ là vì tâm nội
chưa từng lìa nguyên thể và vô nhiễm, thân ngoại chưa từng lìa tôn nghiêm và hiền
thiện. Ở chỗ ác trược tối tăm mà vẫn
nguyên thể và vô nhiễm, vẫn tôn nghiêm và hiền thiện là phẩm hạnh của đấng Chúa
Thánh Thần.
Việt Dịch Đồ dưới
lăng kính minh triết: Tâm trung là chỗ vô chấp, vô cầu, vô sinh, vô diệt, bất đồng,
bất dị. Vòng ngoài là chỗ không thực
tánh thực tướng, của chấp trước, của trùng trùng duyên khởi, của huyễn hóa, của
vô minh, của sinh diệt, của biển nghiệp lực.
Tâm trung là thế giới của ‘diệu trạm tổng trì bất động tôn,’ là đại viên cảnh
trí, là đương xứ tức chân, là tuyệt thánh khí trí, là bất động hiện quán, là bản
lai diện mục, là sanditthiko, là akàliko, là opanayiko. Vòng ngoài là thế giới ‘như mộng huyễn bào ảnh,
như lộ diệc như điển,’ là ‘hoa đốm giữa
hư không,‘ là lý trí vọng thức,
là chỗ ‘gate, gate, paragate, parasamgate,’ là khổ đế và tập đế. Tâm trung là nhà của Như Lai. Vòng ngoài là
chỗ hiển bày vạn pháp. Bồ tát thường tịnh
thường lặng ngay giữa chốn điên đảo quay cuồng là vì tâm nội chưa từng lìa nhà
Như Lai, thân ngoại chưa từng lìa Pháp Giới; là vì vốn thấy rõ tất cả pháp đều
huyễn hóa nên lìa tâm thức phân biệt chẳng thấy bốn tướng ‘nhân, ngã, chúng
sanh, thọ giả,’ chẳng thương, chẳng ghét; là vì vốn thấy rõ mọi hiện tượng thế
gian đều ‘không thêm, không bớt, không dơ, không sạch’ nên chẳng lìa ‘bình
đẳng tánh trí,’ chẳng buông bỏ gì, chẳng nắm giữ gì, chẳng đến, chẳng đi; là vì
vốn thấy rõ ‘thế gian như chiêm bao mà khởi lòng đại bi’ nên chẳng lìa thực
tại hiện tiền, trong huyễn cảnh hiện huyễn thân dụng huyễn pháp nương huyễn
phương tiện cứu độ huyễn chúng sanh, tùy duyên bất biến. Giữa thế gian mà không bị những cái khổ của
thế gian trói buộc chính là quán tự tại.
Việt Dịch Đồ dưới
lăng kính minh triết: Tâm trung là Đạo, vòng ngoài là Danh. Danh là chỗ của có không. Không là tên gọi lúc khởi đầu trời đất, là ’vô,
danh thiên địa chi thủy.’ Có là tên gọi lúc
nảy sinh, là ‘hữu, danh vạn vật chi mẫu.’ Thánh nhân lấy cái không để chiêm ngưỡng sự kỳ
diệu, lấy cái có để xem xét sự tinh vi, ‘cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu, thường
hữu dục dĩ quan kỳ hiếu.’ Có không cùng hiện
hữu. Thánh nhân không thiên vị. Theo đạo tự nhiên nên không cố làm, dạy đạo tự
nhiên nên không cố nói, cùng một thể với đạo, ‘xử vô vi chi sự, hành bất ngôn
chi giáo.’ Ở chỗ có không thánh nhân làm khe nước cho
người khát, thành việc mà không kể công, thành công mà không ở lại, rỗng tâm,
no lòng, mềm chí, cứng xương, khiến dân không dám tham, khiến kẻ trí không dám
dùng thủ đoạn, thường hay cứu người nên không bị bỏ rơi, thường hay cứu vật nên
không bị vứt đi. Thân tuy ở Danh nhưng tâm thì ở Đạo. Lòng đạo vốn trống không nên dung chứa vô
cùng.
Việt Dịch Đồ dưới
lăng kính minh triết: Tâm trung là đất của tiên thiên, vòng ngoài là chỗ của hậu
thiên. ‘Tiên thiên thì tịch tịnh như
nhiên, bất sanh bất diệt. Hậu thiên thì luôn luôn biến dịch và có cơ biến hóa
hai chiều: chiều sanh và chiều tử.’ Tâm trung là chỗ của ‘Thái Cực hiện nơi cung
Vô Cực, là hoa khai kiến phật; Thái Cực có hiện nơi cung Vô Cực thì Vô Cực mới
thành chí huyền chí diệu,’ mới là ‘huyền chi hựu huyền’ Vòng ngoài là chỗ ‘dùng chơn Thủy giúp cho Hỏa
minh linh,’ là nơi ‘để đức cương kiện hiệp với đức nhu thuận,’ để ‘chân trí
linh tri tương hiệp, chân tình chân tánh đồng khí, cương nhu phối nhau quay về
Trung Chánh’ chỗ chân Thổ là nơi ‘Mậu Kỷ hiệp nhau biến thành đao khuê’ điểm hợp nội ngoại
chi đạo để ‘kiến tố’ để ‘phục mện’ chính chỗ dụng
tâm của tiên gia.
Giữa tâm trung với
vòng bên ngoài của Việt Dịch Đồ, lý sự có thể tóm lại trong một chữ Dịch. Nó hàm chứa sự thông dung và diệu dụng. Nó hàm chứa sự tự nhiên và vô ngại. Nó hàm chứa một thế giới nhị nguyên trong trạng
thái tương tác hài hòa. Đó chính là Dịch. Hiểu và sống trong sự tương tác hài hòa đó
chính là nền tảng của minh triết VIỆT.“
Nghiệm lại nghĩa
lý của cặp đồng đạo tương ứng Ngũ Thường Phổ Cập (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) và
Ngũ Hành Phổ Cập (5 hành vật chất đồng đẳng) rồi so với nghĩa lý cao siêu của cặp
đồng đạo tương ứng Ngũ Thường Nguyên Thủy (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh) và Ngũ
Hành Nguyên Thủy (5 hành thiên văn bất đồng đẳng), không khó để nhận ra một sự
khác biệt rất lớn.
Như
đã nói, Ngũ Thường Nguyên Thủy là đồng đạo tương ứng của Ngũ Hành Nguyên Thủy. Do đó khám phá “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh”
trong những di chỉ cổ nhất và đáng tin cậy nhất mà nhân loại có được từ hai vụ khai
quật mộ cổ ở Mã Vương Đôi và Kim Môn Quách Điếm chính là có thêm bằng chứng vật
thể củng cố cho sự chính xác của mô hình Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy.
Quan trọng hơn
là chính sự chính xác của những sản phẩm được phục dựng từ phương pháp giải mã di
sản văn hóa phi vật thể đã cho thấy giá trị của những sản phẩm văn hóa phi vật
thể được phục dựng và của chính phương pháp giải mã di sản văn hóa phi vật thể để
phục dựng những sản phẩm văn hóa phi vật thể đó.
Đồng thời nó tiếp tay làm sáng tỏ một SỰ THẬT
mà nhiều học giả “cấp tiến” của Việt Nam đang cố chứng minh bằng nhiều phương
pháp khác nhau, trong đó có cả phương pháp giải mã di sản văn hóa phi vật thể để
phục dựng sản phẩm văn hóa phi vật thể.
SỰ THẬT đó rất đơn giản: NỀN VĂN MINH VIỆT CỔ ĐÃ ĐẺ RA NỀN VĂN MINH
TRUNG HOA.
Như
Trương Hải Yến đã viết “Tư tưởng triết học
của dân tộc Trung Quốc đã có ngay từ thời Lão Tử và Khổng Tử, điều này không có
gì để nghi ngờ.” Mà Khổng Tử thì đã
nói với học trò của mình là “[Ta] chỉ thuật
lại mà không trước tác, [Ta] tin vào đạo lý của đời xưa - [Ngô] thuật nhi bất tác, [Ngô] tin nhi hiếu
cổ ” và cũng đã xác định một sự thật là nguồn gốc của văn minh nằm ở phương
Nam, được ghi lại trong sách Trung Dung: “Độ
luợng bao dung, khoan hòa giáo hóa, không
báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam, người quân tử ở đấy! Mặc
giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của
phương Bắc. Kẻ cường đạo ở đó.” Tuân Tử cũng xác nhận Ngũ Hành Nguyên Thủy
(đồng đạo tương ứng của Ngũ Thường Nguyên Thủy là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Thánh)
là mô phỏng theo “thời xưa.” Vậy thời xưa
là thời xưa nào, nếu không phải là thời người Việt cổ còn làm chủ trọn vẹn đất Trung
Nguyên? Văn minh phương Nam
là văn minh của ai, nếu không là văn minh của cổ Việt?