Showing posts with label Độ Số. Show all posts
Showing posts with label Độ Số. Show all posts

Friday, October 29, 2010

Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#16)


Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời

trở về: Việt Dịch - bài 15
5. NHỮNG KHÁM PHÁ VỀ THUYẾT NGŨ HÀNH
Trong quá trình triển khai vừa qua --từ Tiên Thiên Bát Quái cho đến Hậu Thiên Bát Quái, đến Việt Dịch Đồ, đến phân bố Việt Dịch Đồ trên 9 cung, đến Lạc Thư, đến phân bố Việt Dịch Đồ trên 12 cung, và cuối cùng là những quy luật phối hợp giữa âm dương, ngũ hành, độ số, thiên can và địa chi-- chúng ta dễ dàng nhận ra tính hệ thống của toàn bộ lý giải cũng như dễ dàng nhận ra sự hợp lý của mỗi phiến lý giải.  Cũng không khó cho chúng ta nhận ra cốt lõi của toàn bộ dịch học gói gọn trong hai vế với sáu mươi bảy lời.  Và, có một điều rất thú vị là trong suốt quá trình triển khai đó chúng ta cũng không khó để nhận ra là đã không tìm thấy bằng chứng hổ trợ cho hệ thống lý thuyết ngũ hành phổ cập rất quen thuộc với chúng ta.  Nói như thế cũng chưa đúng lắm.  Có lẽ sẽ chính xác hơn nếu nói rằng trong suốt quá trình triển khai vừa qua chúng ta đã tìm thấy bằng chứng để phủ nhận lý thuyết ngũ hành phổ cập mà chúng ta quen thuộc.  
Hệ thống lý thuyết ngũ hành phổ cập được xây dựng trên cơ sở: (1) ngũ hành là 5 loại vật chất gồm kim loại, gỗ, nước, lửa, đất; (2) Năm hành này tuân thủ quy luật tương sinh gồm có Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy; (3) Đồng thời năm hành này cũng tuân thủ quy luật tương khắc gồm có Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ.  Tất cả những ứng dụng của lý thuyết ngũ hành đều xây trên nền móng “5 loại vật chất + 2 quy luật sinh khắc” này.  Rồi từ nền móng đó phát sinh ra những quy luật khác như là hình, xung, hóa, hợp. . . cùng với những lý luận và ứng dụng kèm theo.     
Có thể nói là lý thuyết ngũ hành rất phổ cập và ứng dụng của thuyết ngũ hành thâm nhập hầu hết mọi ngõ ngách của những xã hội Á Châu.  Điều này chứng tỏ nó có sức hút rất lớn đối với quần chúng.  Tuy là vậy, nhưng với suy nghĩ thực sự nghiêm túc, chúng ta không thể không nhìn thấy sự phi lý rõ rệt của lý thuyết ngũ hành phổ cập và sự tùy tiện trong ứng dụng đến mức độ khó chấp nhận.  Với tác giả,  dầu cho kho lý thuyết và ứng dụng của lý thuyết ngũ hành phổ cập có nhiều tới đâu, có biến hóa tới đâu, có diễm ảo tới đâu, có ly kỳ tới đâu, có tinh vi tới đâu đi nữa thì cũng vẫn không che dấu được sự sai lầm từ nền móng.  Đó là, thế giới này không tạo dựng bởi năm loại vật chất Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.  Thế giới này không vận hành theo quy luật Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy.  Thế giới này cũng không vận hành theo quy luật Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ.  Kho tàng lý thuyết của ngũ hành phổ cập chỉ là một toà lâu đài đẹp xây bằng hơi nước.  Ứng dụng lý thuyết ngũ hành phổ cập vào các môn tiên tri, tiên đoán thì xác suất đúng sai của chúng có chắc gì hơn được xác suất sấp ngửa của một đồng tiền rớt trên mặt bàn.  Xin lưu ý cho là tác giả không phủ nhận lý thuyết ngũ hành mà chỉ phủ nhận lý thuyết ngũ hành phổ cập đặt trên nền móng “5 vật chất + 2 quy luật sinh khắc.”         
Như vừa nói, suốt trong quá trình triển khai mật nghĩa của sáu mươi bảy lời trong hai vế chúng ta đã không tìm thấy một bằng chứng nào hỗ trợ cho thuyết ngũ hành phổ cập.  Ngược lại, trong tiến trình đưa đến Việt Dịch Đồ, vế thứ hai trong 67 lời mật ngữ là “Thiên Nhất sanh Thủy, Địa Lục thành chi, Địa Nhị sanh Hỏa, Thiên Thất thành chi, Thiên Tam sanh Mộc, Địa Bát thành chi, Địa Tứ sanh Kim, Thiên Cửu thành chi, Thiên Ngũ sanh Thổ, Địa Thập thành chi” đã được giải mã tường tận là Càn sinh Thuỷ rồi sinh Mộc, Khôn sinh Hỏa rồi sinh Kim, sau hết là sinh Thổ.  Ý nghĩa của cụm chữ màu xanh này là: xác định vị trí 5 thiên thể và chiều xoay cơ bản, mà Càn-Khôn là trục, trong tương quan giữa mặt đất và bầu trời.  Xem hình H21. 

 
Cũng từ cụm chữ màu xanh này mà quy luật vận hành cơ bản của ngũ hành được xác định là từ Thuỷ tới Mộc tới Hoả tới Kim rồi tới Thổ ở trung tâm.  Hay trình bày một cách khác là Thủy -> Mộc -> Hỏa -> Kim -> Thổ ở trung tâm
Rồi với cấu trúc 8 quái Hậu Thiên phối với 8 số của Hà Đồ cộng với sự vận hành Tiên Thiên và Hậu Thiên mà Việt Dịch Đồ xuất hiện. Với Việt Dịch Đồ, hình H27, nó không khó cho chúng ta nhận ra là toàn bộ lý thuyết ngũ hành đã nằm ẩn trong đó.  




Một trong những thể hiện quan trọng của Việt Dịch Đồ là hai dòng hành khí vận hành ngược chiều nhau, dòng hành khí nằm ở vòng bên ngoài vận hành theo chiều kim đồng hồ còn dòng hành khí nằm ở vòng bên trong vận hành ngược chiều kim đồng hồ.  Chú ý ở điểm là cả hai chiều vận hành đều là thuận hành.  Hay nói cách khác theo ngôn ngữ ngũ hành là chiều kim đồng hồ lẫn chiều ngược kim đồng hồ đều là chiều sinh.  Như vậy, với 5 hành ở 5 phương vị và với hai dòng hành khí vận hành ngược chiều nhau, lý thuyết ngũ hành nguyên thủy đã tự thể hiện đầy đủ mà không cần sự trợ giúp nào từ bên ngoài.  Gọi lý thuyết ngũ hành nằm ẩn trong Việt Dịch Đồ này là Lý Thuyết Ngũ Hành Nguyên Thủy.
Để giúp cho thấy rõ hơn, chúng ta có thể đơn giản hóa Việt Dịch Đồ và minh họa thành một mô hình riêng cho lý thuyết ngũ hành, trong đó hành Thổ nằm ở trung tâm còn 4 hành Thủy, Mộc, Hỏa, Kim nằm trên một vòng tròn với quy luật sinh vận hành hai chiều ngược nhau.  Chính đặc tính sinh hai chiều này nên nó được gọi là tương sinh.  Hay nói cách khác, hai hành nằm cạnh nhau thì tương sinh.  Và, suy ra, hai hành đối lập nhau thì tương khắc.  Lý thuyết ngũ hành nguyên thủy có thể tóm gọn và so sánh với lý thuyết ngũ hành phổ cập như trong hình H45.       


 Như chúng ta đã thấy, tuyệt đối không có một chút chứng cớ nào cho sự hiện hữu của lý thyết ngũ hành phổ cập.  Không thấy ngũ hành là 5 loại vật chất cũng không thấy sinh khắc theo hai quy luật của thuyết ngũ hành phổ cập. 
Nếu Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là 5 loại vật chất giống như lý thuyết ngũ hành phổ cập luôn nói tới thì tại sao không gọi chúng là ngũ chất mà lại gọi là ngũ hành?  Còn căn cứ theo từ điển Thiều Chửu thì ngũ hành là “cái để dùng, của dùng như ngày xưa gọi vàng, gỗ, đất, lửa, nước là ngũ hành金木水火土為五行 ý nói năm thứ ấy là cái người ta cần dùng hằng ngày vậy.”  Nếu đúng là như thế thì từ chỗ 5 vật dụng tối yếu cho đời sống của con người đi tới chỗ 5 vật chất tương sinh tương khắc lẫn nhau cấu tạo nên mọi thứ mọi cái như lý thuyết ngũ hành phổ cập luôn nói tới thì khoảng cách quả thật là không gần.   
Cũng căn cứ theo từ điển Thiều Chửu thì chữ hành 行 trong tiếng Hán có nghĩa là đi, là bước đi, là trải qua, là sắp tới, là biến đổi không ngừng.  Chữ hành trong những ý nghĩa “đi, bước chân đi” hoàn toàn khế hợp với lý giải ngũ hành là để chỉ phương hướng, để định vị, để làm sao đi tới nơi về tới chốn.  Chữ hành trong ý nghĩa “trải qua, sắp tới, biến đổi không ngừng” lại càng đặc biệt vì không những hoàn toàn khế hợp với lý giải ngũ hành là để chỉ phương hướng, trong đó bao gồm cả chiều xoay thuận nghịch đối với một định vị , mà còn hoàn toàn khế hợp với hành trạng của Tứ Tượng.  Chính điểm này giúp chúng ta mở ra một cánh cửa khác để nghiệm xét vấn đề Ngũ Hành: đó là sự khế hợp và không khế hợp giữa Tứ Tượng, Bát Quái với Ngũ Hành.  
Nếu lý giải thuyết ngũ hành trên căn bản Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là để chỉ 5 loại vật chất với 2 quy luật  sinh khắc theo đúng căn bản của lý thuyết ngũ hành phổ cập thì làm sao năm hành có thể phối hợp được với bốn tượng và tám quái?  Thêm vào đó, như đã nói, bằng vào kiến thức của nhân loại ngày hôm nay, rõ ràng thế giới này không cấu thành bởi 5 loại vật chất cũng không vận hành bởi hai quy luật sinh khắc như lý thuyết ngũ hành phổ cập luôn vận dụng. 
Ngược lại nếu lý giải thuyết ngũ hành trên căn bản thiên văn Thủy, Mộc, Hỏa, Kim là để chỉ 4 hướng Bắc, Đông, Nam, Tây và trung tâm là hành Thổ thì năm hành kết hợp với bốn tượng và tám quái lại là một điều hoàn toàn khả dĩ và hoàn toàn hợp lý.   Trong trường hợp này Âm Dương, Ngũ Hành, Hà Đồ, Bát Quái, Thiên Can, Địa Chi, Cửu Cung, Thập Nhị Cung không những khế hợp về mặt cấu trúc mà còn khế hợp về mặt thể hiện thế giới hiện tượng một cách dung thông gọi là Dịch Lý.  Đây là một sự kết hợp của hai vế chứa đựng trong 67 lời.  Sự kết hợp làm cho lý-sự của âm dương, ngũ hành, bát quái, độ số, thiên can, địa chi, phương hướng, mùa tiết . . .  có thể “hiển bày” vạn tượng trong một đồ hình đơn giản, Việt Dịch Đồ.  Một sự kết hợp trọn vẹn và kỳ ảo!   
Tìm trong kho tàng đạo học chúng ta cũng có không ít bằng chứng nói về ngũ hành.  Trong một bài giảng về Âm Dương Ngũ Hành Đức Đông Phương Lão Tổ đã giảng:

“Thánh Nhân ngày xưa nhìn thấy lẽ siêu xuất của vũ trụ vạn vật, vạch ra Bát Quái, tham cứu Đồ Thơ, tác thành Dịch Đạo, lưu lại cho đời tìm hiểu mối manh huyền bí của vũ trụ vạn vật. Tuy hình tướng lý thuyết bên ngoài, nhưng bên trong chứa đựng luật tắc ảo diệu biến hóa của Thái Cực Âm Dương. Người tu luyện nương vào đó để nhìn thấy sự luân động của bộ máy tối linh, nhận thấy được cái gì là chân thật, bất biến để gìn giữ, cái gì là giả tạm, sanh diệt diệt sanh trong thời gian nào đó để không bám víu.
Thiên nhất sanh thủy, Địa lục thành chi; Địa nhị sanh hỏa, Thiên thất thành chi; Thiên tam sanh Mộc, Địa bát thành chi; Địa tứ sanh kim, Thiên ngũ thành chi; Thiên ngũ sanh thổ, Địa thập thành chi. Một sanh một thành một âm một dương, một động một tịnh.

Bởi có danh có chất nên gọi là Ngũ-Hành Tiên-Thiên. Bởi có hình có tướng nên gọi là Ngũ-Hành Hậu-Thiên. Trong trời đất vạn vật không có vật chi hóa sanh biến dưỡng mà không có Tiên Thiên, Hậu Thiên Ngũ Hành áp dụng vào nhân thân. Người tu luyện phải thấu suốt những tác năng sinh động hữu hình trong chính bản thân để hòa hợp tu chứng.

Ngươn Thần, ngươn Tinh, ngươn Tính, ngươn Tình, ngươn Khí là Ngũ Hành Vô Hình. Thức Thần, trược Tinh, quỷ Phách, du Hồn, vọng Ý là Ngũ Hành Hữu Chất. Bính Đinh, Nhâm Quý, Canh Tân, Giáp Ất, Mồ Kỷ là Ngũ Hành Phương Vị. Đó là hữu danh, hữu chất, vô hình là nguồn gốc của Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là tượng của Ngũ Hành ứng với phương vị để truyền sản tác thông, nguyên căn tổ khiếu của ngũ ngươn, ngũ tạng, lục phủ là hình trong hình, chất trong chất. Do đó có hỉ, nộ, ai, lạc, dục.

Biết được sự liên hệ mật thiết giữa máy Tạo tuần hoàn, nhân thân cùng vũ trụ thì tu luyện là cần thiết cho con người. Khi đã tạo thành, con người sống trong hai khí Tiên Thiên, Hậu Thiên; tinh thần hòa lẫn vật chất; hữu hình vật chất thì biến hiện, vô hình thì tiềm ẩn, thế nên con người chỉ thấy giá trị của vật chất mà không thấy giá trị của tinh thần, vì vật chất hữu hình, quyến rũ, lôi cuốn, con người càng ngày càng bám víu; trong khi  Chơn Tâm linh tánh càng ngày càng bị phủ mờ. Hỉ, nộ, ai, lạc, dục theo ngũ quan nhập vào tàn phá Ngũ Tạng Lục Phủ, làm thân phải bị thương tổn, khuynh khuyết, hoại tàn.

Muốn trị được chứng nội thương ấy, người tu luyện cần phải chuyên chú trong việc luyện kỷ. Dương là đầu mối hóa sanh, tác thành vạn vật. Một Âm không sanh, một Dương không trưởng; Âm thạnh, Dương suy ắt bại hoại. Tạo thế quân bình cho trong định ngoài an là đời sống tự do, tự tại. Vượt ngoài lý Âm Dương là phản bổn hoàn nguyên, vĩnh cửu trường tồn. Tai nghe tiếng trần mà chẳng phân biệt; mắt nhìn thấy sắc trần mà chẳng phân biệt; mũi ngửi mùi trần mà chẳng phân biệt; lưỡi nếm vị trần mà chẳng phân biệt. Chính vì sự phân biệt mà có ưa ghét, thân thù, khao khát, ước vọng để kết thành của nghiệp luân hồi. Vui, giận, buồn, vui, thương, cảm khi chưa phát gọi là trung.  Khi phát ra đúng tiết điệu hòa hài cảm ứng với nội tâm, ngoài cảm gọi là hòa. Trung Hòa là yếu tố đạt đến chỗ trong định ngoài an, để sống một cuộc sống siêu thoát; mà sống cuộc sống siêu thoát thì Tiên Phật cũng thế thôi.[1]

Nhưng qua đoạn giáo lý trên chúng ta thấy được ngũ hành trên nền tảng của đạo học cũng không có một chút dấu vết nào để có thể nói ngũ hành là 5 loại vật chất. Và không thấy dấu vết nào của hai quy luật tương sinh và tương khắc chi phối hay vận hành thế giới hiện tượng lẫn thế giới siêu hình như lý thuyết ngũ hành phổ cập thường nói tới.  


[1] Giáo Lý Cao Đài


Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#15)

Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời

trở về: Việt Dịch - bài 14

3. LẠC THƯ, 9 CUNG VÀ 12 CUNG
Từ mô hình Việt Dịch Đồ chúng ta có thể lấy phần nằm bên trong vòng xanh của hình H27, để xếp vào 9 cung và được kết quả của một hình Bát Quái Hà Đồ Cửu Cung giống như hình H40.  Sự phối hợp của những yếu tố âm dương, độ số, Tứ Tượng, Ngũ Hành, và Bát Quái vẫn duy trì như từ trước đến giờ.  





Rồi từ hình H40, Bát Quái Hà Đồ Cửu Cung, chúng ta chỉ cần đem hành Hỏa với hành Kim hoán vị cho nhau là có được kết quả của một hình Bát Quái Lạc Thư Cửu Cung như trong hình H41.  




Cũng từ Việt Dịch Đồ hình H27, chúng ta có thể lấy phần nằm bên ngoài vòng xanh của hình H27, để xếp vào 12 cung và được kết quả của một hình Bát Quái Hà Đồ Thập Nhị Cung giống như hình H42, một đồ hình căn bản của môn Tử Vi.  Sự phối hợp của những yếu tố âm dương, độ số, ngũ hành, và 8 quái vẫn nhất quán như từ trước đến giờ.



 
4. NHỮNG QUY LUẬT PHỐI HỢP ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH, ĐỘ SỐ, THIÊN CAN VÀ ĐỊA CHI
Và cũng từ Việt Dịch Đồ hình H27, chúng ta cũng rút ra được một số quy luật phối hợp giữa âm dương, ngũ hành, độ số, 10 thiên can và 12 địa chi như cho thấy trong hình H43 và H44.






Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#8)

Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời

trở về: Việt Dịch - bài 7

2. HẬU THIÊN BÁT QUÁI, HÀ ĐỒ VÀ VIỆT DỊCH ĐỒ
Một cụm chữ khác cũng phổ thông không kém trong thế giới dịch học mà các học giả, các đạo gia, các nhà bói toán và ngay cả các vị tu luyện bùa chú hầu hết đều biết đến, đó là “Thiên Nhất sanh Thủy, Địa Lục thành chi, Điịa Nhị sanh Hỏa, Thiên Thất thành chi, Thiên Tam sanh Mộc, Địa Bát thành chi, Địa Tứ sanh Kim, Thiên Cửu thành chi, Thiên Ngũ sanh Thổ, Địa Thập thành chi.”  Vậy thì cụm chữ đầy huyền bí này là cái gì?
Cũng giống như đã giải trình cụm chữ đầu tiên, chúng ta sẽ thẳng thắn trả lời cụm chữ thứ hai này là cái gì.  Nhưng trước khi tiếp tục cuộc du hành lý thú, chúng ta hãy bỏ chút thời gian để nhìn vào hình H20 được tạm gọi là bảng giải mã từ thiên nhất sanh Thủy tới địa thập thành chi.



Chúng ta nhìn thấy gì trong bảng giải mã đó?  Có phải chăng nó mô tả sự liên hệ giữa và quy luật tổng quát của Âm Dương, Ngũ Hành và Độ Số?  Trong đó:

  • một âm một dương, một sinh, một thành, một động một tịnh, một trước một sau;
  • Càn sinh Thủy rồi mới sinh Mộc, Khôn sinh Hỏa rồi mới sinh Kim, sau chót là sinh Thổ.
  • 1, 7, 3, 9, 5 là độ số trời còn 6, 2, 8, 4, 10 là độ số đất và tổng số của độ số thiên là 25, tổng số của độ số địa là 30, và tổng số của độ số thiên lẫn địa là 55 (25 + 30);
  • Thủy 1, Hỏa 7, Mộc 3, Kim 9, và Thổ 5 là Tiên Thiên Ngũ Hành còn Thuỷ 6, Hỏa 2, Mộc 8, Kim 4, Thổ 10 là Hậu Thiên Ngũ Hành.

Đồng thời nó còn cho thấy sự liên hệ giữa cụm chữ bí ẩn này với hệ số nhị phân, thể hiện qua hai trạng thái 0 (inactive, low) và 1 (active, high) trong dạng sóng điện kỹ thuật số, cũng như giúp xác định tính chất của dương động và âm tịnh của Lưỡng Nghi.  Nếu các bạn vẫn còn nhớ nội dung trong hình 1 mô tả tiến trình từ  Thái Cực tới vạn vật và hình 18 mô tả một vũ trụ lớn trong đó dãy số 0 -> 20 -> 21 -> 22 -> 23 -> 2n đại diện cho vũ trụ của chúng ta [thế giới của đối đãi, của nhị nguyên, của những hiện tượng nằm trong phạm trù con người có thể thấy hiểu được và nó chỉ là một phần nhỏ trong vũ trụ lớn đó] thì chúng ta sẽ nhận ra một sự khế hợp nhất quán và xuyên suốt từ cụm chữ đầu tiên là “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật” đã triển khai ở đoạn trước cho tới cụm chữ “thiên nhất sanh thủy, địa lục thành chi, địa nhị sanh hỏa, thiên thất thành chi, thiên tam sanh Mộc, địa bát thành chi, địa tứ sanh kim, thiên cửu thành chi, thiên ngũ sanh thổ, địa thập thành chi” mà chúng ta đang đề cập ở đoạn này.    
Chưa hết, cụm chữ thần bí này còn cho chúng ta biết nguồn gốc của Ngũ Hành và sự liên hệ của Ngũ Hành đối với Âm Dương và Độ Số cũng như sự phân định Ngũ Hành ra thành Tiên Thiên Ngũ Hành và Hậu Thiên Ngũ Hành.     

Tuy chúng ta đã giải mã khá tường tận về cụm chữ này nhưng thật ra thì nó muốn tới cái gì?  Ở đoạn trên chúng ta đã giải mã cụm chữ “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật” và tìm ra cái rốt ráo mà cổ thánh [vị cha đẻ của cụm chữ] đã muốn đưa ngón tay chỉ vào chính là cái Tiên Thiên Bát Quái Đồ hay nói cho khoa học hơn là chỉ vào một vũ trụ đồ mô tả sự khởi nguyên và quy luật vận hành của vũ trụ trong phạm trù có thể thấy hiểu và lý giải được.  Cũng giống như vậy, chúng ta cần phải tìm ra sự thật là cổ thánh muốn chỉ ngón tay vào cái gì khi đã nói “thiên nhất sanh thủy, địa lục thành chi, địa nhị sanh hỏa, thiên thất thành chi, thiên tam sanh mộc, địa bát thành chi, địa tứ sanh kim, thiên cửu thành chi, thiên ngũ sanh thổ, địa thập thành chi.” Một bí ẩn lớn phải không?
Theo GS Lê Văn Quán, tác giả của cuốn Chu Dịch Vũ Trụ Quan xuất bản năm 1995, NXB Giáo Dục, thì năm vì sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ nằm trong thái dương hệ của chúng ta xuất hiện trên bầu trời theo quy luật vận hành như sau:   

Sao Thủy nằm ở bầu trời hướng Bắc; vào canh 1 (canh Tý) và canh 6 (canh Tỵ); vào mùng 1, 6, 11, 16, 21, 26; vào tháng 11 và tháng 6.

Sao Hỏa nằm ở bầu trời hướng Nam; vào canh 2 (canh Sửu) và canh 7 (canh Ngọ); vào ngày mùng 2, 7, 12, 17, 22, 27; vào tháng 12 và tháng 7.

Sao Mộc nằm ở bầu trời hướng Đông; vào canh 3 (canh Dần) và canh 8 (canh Mùi); vào ngày mùng 3, 8, 13, 18, 23, 28; vào tháng 3 và tháng 8.

Sao Kim nằm ở bầu trời hướng Tây; vào canh 4 (canh Mão) và canh 9 (canh Thân); vào ngày mùng 4, 9, 14, 19, 24, 29; vào tháng 4 và tháng 9.

Sao Thổ nằm ở bầu trời trung ương; vào canh 5 (canh Thìn) và canh 10 (canh Dậu) ; vào ngày mùng 5, 10, 25, 20, 25, 30; vào tháng 5 và tháng 10.

Nếu vị trí và độ số của 5 thiên cầu theo sự trình bày của GS Lê Văn Quán đúng với khoa học thiên văn thì cụm chữ bí ẩn của cổ thánh bỗng chốc trở thành sáng tỏ.  Cụm chữ đó chính là thông tin về cấu trúc của Hà Đồ.  Vâng, là Hà Đồ, như trong hình 21 cho thấy, là một bản đồ định vị trí trên mặt đất dùng 5 vì sao trong thái dương hệ để làm cột móc cho 4 hướng chính với một điểm trung tâm và một trục Càn-Khôn để chỉ trục không gian. 

 
Từ trong cụm chữ đó chúng ta thấy nguyên thủy của cái gọi là ngũ hành “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ” chỉ là tên của các vì sao dùng để định phương hướng và vị trí trên mặt đất.  Cũng cũng từ cụm chữ đó chúng ta xác định được chiều xoay của quy luật vận động nhờ rút ra từ chữ “sanh” và tương quan thứ tự trước sau: Thủy tới Mộc, rồi Hỏa tới Kim, sau cùng là Thổ ở trung tâm.  Và, có phải chăng vì 5 sao này xác định vị trí và phương hướng “để đi” và xác định chiều “xoay” thuận nghịch của quy luật chuyển động nên được gọi là “ngũ hành”?  



Và rồi với thông tin sơ khởi từ cụm chữ bí ẩn đó, chúng ta có thể suy luận và bổ sung thêm một số thông tin hợp lý, dựa vào những trải nghiệm của con người đối với quy luật vận hành khách quan của thiên nhiên và dựa vào quy ước do con người đặt ra để mô tả hành trạng quen thuộc của thiên nhiên và mô tả phương vị trên mặt địa cầu, như trong hình H22.  Thí dụ như là hướng Bắc thì khí hậu lạnh nhất so với hướng Nam khí nóng, hướng Đông khí ấm và hướng Tây khí mát [trải nghiệm].  Khí hậu lạnh nhất trong hành trạng của thời tiết thì ta gọi là mùa Đông [qui ước] so với khí hậu nóng bức vào mùa Hè, ấm áp vào mùa Xuân và mát mẻ vào mùa Thu.  Khí hậu ấm áp của mùa Xuân đi liền với hiện tượng cây cỏ nẩy chồi vươn lên khỏi mặt đất cho nên hành trạng của chu kỳ thiên nhiên sinh hóa trong giai đoạn này được gọi là giai đoạn Sinh [trải nghiệm].  Mùa Hè cây cỏ tốt tươi lớn chắc cho nên được gọi là Trưởng.  Mùa Thu cây cỏ kết trái rồi tàn úa nên gọi là Thu.  Mùa Đông trơ trụi, sự sống biến mất nên gọi là Tàng.  Mỗi hướng bao trùm không gian quá rộng [90 độ] nên hướng Bắc được phân ra thành hai phương vị [qui ước] Nhâm và Quý, hướng Đông được phân ra thành hai phương vị Giáp và Ất, hướng Nam được phân ra thành hai phương vị Bính và Đinh, hướng Tây được phân ra thành hai phương vị Canh và Tân, trung ương gọi là Mậu và Kỷ.  Tất cả gọi chung là Ngũ Hành Phương Vị.  Nhâm Quý Thủy, Giáp Ất Mộc, Bính Đinh Hỏa, Canh Tân Kim, Mậu Kỷ Thổ gọi chung là Ngũ Hành Danh Chất trong đó Nhâm là tiên thiên Thủy và Quý là hậu thiên Thủy, Giáp tiên thiên Mộc và Ất hậu thiên Mộc, Bính tiên thiên Hỏa và Đinh hậu thiên Hỏa, Canh tiên thiên Kim và Tân hậu thiên Kim, Mậu tiên thiên Thổ và Kỷ hậu thiên Thổ.  Mỗi mùa cũng được phân định thành hai mốc thời điểm.  Mùa Xuân thì có Lập Xuân và Xuân Phân.  Mùa Hạ thì có Lập Hạ và Hạ Chí.  Mùa Thu thì có Lập Thu và Thu Phân. Mùa Đông thì có Lập Đông và Đông Chí [trải nghiệm + qui ước].  Một chu kỳ của Thái Tuế [Mộc tinh xoay quanh mặt trời] là 12 năm, chu kỳ của một Tuế [một năm] là 12 tháng, chu kỳ của một ngày là 12 canh giờ cùng được gọi theo thứ tự Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi [trải nghiệm + qui ước].  Một chu kỳ của Tuế Sai là 25920 năm, một nửa chu kỳ được gọi là một Hội dài 12960 năm, mỗi Hội có 12 Vận và mỗi Vận dài 1080 năm, mỗi Vận gồm có 6 Nguyên và mỗi Nguyên dài 180 năm, mỗi Nguyên có 3 Hoa Giáp và mỗi Hoa Giáp dài 60 năm [trải nghiệm + qui ước].    
Quan tâm tới việc bổ sung thêm thông tin vào Hà Đồ, câu hỏi đã từng được đặt ra là “việc xác định mùa Đông nằm chung với khí lạnh và phương Bắc còn mùa Hè nằm chung với khí nóng và phương Nam thì không có gì để thắc mắc, nhưng còn mùa Xuân thì tại sao lại được đặt nằm chung với phương Đông và mùa Thu nằm chung với phương Tây mà không là ngược lại, trong khi cả hai phía đều là nằm giữa nóng và lạnh như nhau?”  Câu trả lời đã nằm sẵn trong thông tin sơ khởi đó là “trời sinh Thủy rồi mới sinh Mộc, đất sinh Hỏa rồi mới sinh Kim” để chỉ chiều vận hành của thiên nhiên sinh hóa như vòng cung trong hình 21 và 22 cho thấy.  Như vậy thì theo vòng thuận từ khí lạnh đến khí nóng rồi từ khí nóng trở về khí lạnh.  Ấm nằm giữa lạnh tới nóng.  Mát nằm giữa nóng tới lạnh.  Đã xác định được vị trí của bốn khí thì xác định được vị trí của bốn mùa.  Xác định được vị trí của bốn mùa rồi thì vị trí của bốn hành trạng sinh, trưởng, thu, tàng dĩ nhiên là phải đi theo. 



tiếp theo: Việt Dịch - bài 9

Thursday, October 28, 2010

Việt Dịch - Hà Hưng Quốc (#7)

Bí Mật Của Đất Trời Gói Gọn Trong Hai Vế
Cốt Lõi Của Dịch Học Nằm Trong 67 Lời


trở về: Việt Dịch - bài 6



Dựa vào một số thí dụ vừa rồi để nghiệm chứng luận điểm cho rằng “Tiên Thiên Bát Quái Đồ là một mô hình có khả năng mô tả nguồn gốc phát sinh vũ trụ cũng như mô tả quy luật vận hành khách quan và bất biến của những hiện tượng biến đổi vật chất trong vũ trụ” thì có lẽ cũng chẳng quá đáng để chúng ta nói là luận điểm trên không phải là không có nền tảng.  Hay nói một cách khác ít rào đón hơn là dường như Tiên Thiên Bát Quái Đồ rất có khả năng mô tả nguồn gốc phát sinh vũ trụ và sự vận hành của mọi hiện tượng khách quan trong vũ trụ.  Để có thể đi tới sự khẳng định dĩ nhiên là cần tốn nhiều thời gian nghiên cứu của nhiều người.


C. Mô Hình Vũ Trụ          
Và sau cùng, chúng ta có thể tự hỏi nếu Tiên Thiên Bát Quái là đồ hình mô tả một vũ trụ nằm trong phạm trù có thể thấy hiểu được và lý giải được thì (1) có một mô hình nào khác tương đương với Tiên Thiên Bát Quái Đồ hay không và (2) có vũ trụ nào khác nằm ngoài phạm trù có thể thấy hiểu được và lý giải được hay không?  Nếu như có những vũ trụ nằm ngoài phạm trù có thể thấy hiểu và lý giải được thì những vũ trụ đó được mô tả như thế nào?
Chúng ta hãy bỏ một ít thời gian để nhìn lại hình 1 mà chúng ta đã từng nhìn qua.  Kết hợp nội dung của “bảng thiết kế tiến trình từ Vô Cực tới vạn vật” với nội dung đã giải trình về sự hình thành của Tiên Thiên Bát Quái Đồ, chúng ta không khó để nhận ra sự liên quan mật thiết giữa Tiên Thiên Bát Quái Đồ với hệ thống số nhị phân.  Nếu “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật” được chấp nhận là một mô hình của vũ trụ khởi nguyên và vận hành thì có lẽ cũng không quá đáng để chúng ta đề xuất “0 ->20 -> 21 -> 22 -> 23 -> 2n” là một mô hình tương đương với Tiên Thiên Bát Quái Đồ.  Từ mô hình vũ trụ khởi nguyên và vận hành diễn tả qua hệ thống số nhị phân này biết đâu những vũ trụ nằm ngoài phạm trù có thể thấy hiểu được và lý giải được cùng với vũ trụ nằm trong phạm trù thấy hiểu được và lý giải được của chúng ta sẽ có cấu trúc như sự mô tả của hình H18.  



 Cấu trúc mô tả trong hình 18, tạm gọi là cấu trúc 2DX, chỉ là một vũ trụ phẳng.  Nếu như có một vũ trụ lớn hơn nữa và không phải là một vũ trụ phẳng thì phải chăng vũ trụ đó có thể được mô tả bằng một hình 3D với rất nhiều tầng của cấu trúc 2DX, tạm gọi là cấu trúc 3DX, và không nhất thiết là phải “ngay hàng thẳng lối” theo trục tung xuyên qua số 0?   Và nếu như mỗi lớp cấu trúc của vũ trụ 3DX không cứng như một phiến kim loại mà lại chuyển dịch dập dềnh sinh động theo hình sóng như rất nhiều mạng lưới cá trải song song bị nước làm nhấp nhô thì toàn thể đại cấu trúc đó có phải chăng mô tả một đại vũ trụ với cái cái mô hình gọi là lưới trời đế thích?